Search

Bình Phước sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

                                     

 Thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (gọi tắt là Nghị quyết 24-NQ/TW), Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết cho cán bộ chủ chốt, báo cáo viên cấp tỉnh, báo cáo viên cấp huyện, thị và lãnh đạo ngành Tuyên giáo, ngành Tài nguyên và Môi trường các cấp. Các huyện, thị, đảng ủy đã lồng ghép tổ chức hội nghị quán triệt Nghị quyết 24-NQ/TW với các nghị quyết, chỉ thị khác cho cán bộ chủ chốt cấp huyện; xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện phù hợp với thực tế địa phương. Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động số 32-CTr/TU ngày 14/10/2013 về việc thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW. HĐND và UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản liên quan đến công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.  

UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành phối hợp Sở Thông tin và Truyền thông, UBND các huyện thị đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng như: đăng tải lên hệ thống cổng thông tin điện tử của tỉnh; mở các chuyên trang, chuyên mục, phóng sự trên Đài Phát thanh và Truyền hình, Báo Bình Phước; treo băng rôn, khẩu hiệu, phát tờ rơi,…Ở huyện, thị xã, hàng năm Phòng Tài nguyên & Môi trường phối hợp với Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Phòng Giáo dục và Đào tạo, UBND cấp xã và các đơn vị liên quan tổ chức các hoạt động tuyên truyền bằng nhiều hình thức nhân các sự kiện môi trường đã huy động được hàng vạn lượt người tham gia hưởng ứng.

Về ứng phó với biến đổi khí hậu: Ngành Tài nguyên và Môi trường tham mưu UBND tỉnh xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Bình Phước giai đoạn 2012-2020; Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng đến năm 2020; Quyết định số 980/QĐ-UBND ngày 25/4/2017 về việc ban hành quy chế phối hợp quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 454/QĐ-UBND ngày 08/3/2018 về việc phê duyệt danh mục công trình và chủ công trình phải tổ chức quan trắc khí tượng thủy văn trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, khảo sát, thu thập số liệu để cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh. Về phòng chống thiên tai: Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn hằng năm đều xây dựng phương án, kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu sát tình hình thực tế địa phương. Các công ty thủy điện, thủy lợi thực hiện việc điều tiết vận hành xả lũ theo đúng quy chế ban hành. Công tác ứng phó biến đổi khí hậu: Tuyên truyền, phổ biến Luật Khí tượng thủy văn cho cộng đồng dân cư có nguy cơ cao về thiên tai do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Thường xuyên cập nhật số liệu quan trắc của các trạm khí tượng thủy văn và trạm đo mưa để dự báo và cảnh báo thiên tai nhằm chủ động phòng tránh giảm nhẹ thiên tai; khuyến cáo những vùng có nguy cơ cao về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Về quản lý tài nguyên

Về tài nguyên đất: Công tác giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn tỉnh đã phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt; trình tự, thủ tục đã được thực hiện theo đúng quy định, từng bước khắc phục tình trạng giao đất, cho thuê đất trái thẩm quyền, không đúng đối tượng. Trong đó: Giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá cho 10 tổ chức với tổng diện tích 193,75 ha. Giao đất không thu tiền sử dụng đất cho 243 tổ chức với tổng diện tích: 2.777,19 ha. Cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông, lâm nghiệp sang đất phi nông nghiệp cho 319 tổ chức với tổng diện tích 13.772,84 ha. Công tác rà soát, xử lý các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư nhưng sử dụng đất không đúng mục đích, chậm đầu tư đã được triển khai thực hiện. Thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.

Về tài nguyên nước: Tỉnh đã cấp 169 giấy phép trong lĩnh vực tài nguyên nước. Tổ chức công bố Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Bình Phước đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đến các tổ chức, đơn vị có liên quan trên địa bàn tỉnh. Triển khai thực hiện điều tra, thống kê các giếng khoan, giếng đào hư hỏng không sử dụng trên địa bàn tỉnh, lập đề án trám lấp giếng. Đã thực hiện giám sát việc trám lấp 124/128 giếng khoan của 38 công ty tại Khu công nghiệp Minh Hưng – Hàn Quốc.

Về tài nguyên khoáng sản: Tỉnh đã phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Phước đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Công tác cấp phép hoạt động khai thác khoáng sản được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Các đơn vị khai thác khoáng sản đã chú trọng và có trách nhiệm trong đầu tư, xây dựng, bảo trì, sửa chữa hạ tầng giao thông, bảo vệ, phục hồi môi trường khu vực thăm dò, khai thác khoáng sản. UBND tỉnh phê duyệt kinh phí cấp quyền khai thác khoáng sản đối với 55 đơn vị với tổng số tiền 195,763 tỷ đồng. Công tác tiếp nhận, thẩm định hồ sơ cấp phép hoạt động khoáng sản được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định.

moi truong.jpg

 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Phước tổ chức buổi tọa đàm thực trạng và giải pháp đối với công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh ngày 27/3/2017

Công tác bảo vệ môi trường: Trong giai đoạn 2010-2015, tỉnh đã thẩm định và phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường cho khoảng hơn 300 Dự án đầu tư. Mạng lưới quan trắc được duy trì thường xuyên và ổn định nhằm thực hiện quan trắc chất lượng môi trường đất, không khí, nước mặt và nước ngầm. Công tác quản lý chất thải rắn đã được quan tâm hơn, tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch hệ thống bãi chôn lấp, xử lý chất thải rắn đến năm 2020. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh hiện đạt trên 90% tại các khu vực đô thị, công nghiệp, dịch vụ và du lịch; trên 50% tại các khu vực nông thôn; tỷ lệ thu gom rác thải công nghiệp đạt khoảng 95%; chất thải rắn nguy hại đạt khoảng 99% (các chỉ tiêu này đều đạt theo Chương trình hành động 32-CTr/TU của Tỉnh ủy). Riêng khu vực thị xã Đồng Xoài đã có Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt công suất 100 tấn/ngày. Đối với chất thải rắn công nghiệp và nguy hại thu gom được doanh nghiệp ký hợp đồng với đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển và xử lý theo quy định. Đến nay, đã có 44 dự án được cấp Giấy xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường.

Hàng năm, ngành Tài nguyên và Môi trường tiến hành kiểm tra, giám sát ít nhất 01 lần việc thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường đối với các dự án đã được phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường trên địa bàn tỉnh; tiến hành kiểm tra việc chấp hành các quy định về công tác bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh... và xử lý nghiêm theo pháp luật. Cụ thể:

Từ năm 2014 -2017, Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành 87 quyết định xử phạt, với tổng số tiền 1.792.690.000 đồng. Trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành 19 quyết định xử phạt, với tổng số tiền 5.654.100.000.UBND các huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn cũng tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra đối với các cơ sở sản xuất có nguồn nước thải lớn, mức độ ô nhiễm cao; giải quyết các khiếu nại, tố cáo có liên quan đến lĩnh vực môi trường. Đến nay, 05 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh đều hoàn thành việc xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm môi trường.

 Khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của người dân, hạn chế và tác động do ô nhiễm môi trường đến sức khỏe của nhân dân

Hàng năm, ngành Tài nguyên và Môi trường đều tổ chức phát động ra quân hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường, đồng loạt ra quân dọn dẹp vệ sinh, thu gom và tiêu hủy rác thải tại các khu vực công cộng, khu dân cư, chợ, bệnh viện, cơ quan; nạo vét, khơi thông cống rãnh thoát nước, quét dọn cỏ rác, phát quang hai bên đường; áp dụng mô hình chuồng trại chăn nuôi kết hợp sử dụng khí biogas; tổ chức kiểm tra vệ sinh môi trường nhắc nhở chấn chỉnh kịp thời những trường hợp không đảm bảo vệ sinh môi trường. Đặc biệt, phát động phong trào toàn tỉnh trồng cây xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp.

Hiện nay, có 06 KCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt cột A của QCVN (trong đó 04 KCN đã được cấp Giấy xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường, 02 KCN còn lại đang tiến hành các thủ tục xin cấp Giấy xác nhận); 20 nhà máy chế biến mủ cao su và tinh bột mì đã hoàn thành việc xây dựng, cải tạo hệ thống xử lý nước thải đã đạt cột A của QCVN. Hầu hết các doanh nghiệp chăn nuôi heo trên địa bàn tỉnh đã thực hiện tái sử dụng nước thải sau xử lý để vệ sinh chuồng trại và tưới cây. Các doanh nghiệp đã có ý thức bảo vệ môi trường hơn, chú trọng hơn trong việc đầu tư, cải tạo hệ thống xử lý nước thải, tiết kiệm nguồn nước, giảm thiểu các tác động tới môi trường.

 Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học

Tỉnh chỉ đạo ngành Tài nguyên và Môi trường phối hợp các ngành nghiên cứu, bảo vệ động thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, bảo tồn và phát triển các vùng đa dạng sinh học, đất ngập nước quan trọng trên sông Đồng Nai, lòng hồ Thác Mơ, Trảng cỏ Bù Lạch. Bảo tồn và phục hồi các loại giống thuỷ sản nước ngọt quan trọng có giá trị kinh tế, bao gồm: Đưa con giống tôm càng xanh, cá chình nuôi ở hồ thuỷ lợi, hồ thuỷ điện (hồ Thác Mơ, hồ chứa nước…). Đẩy mạnh sinh sản nhân tạo các loài cá có giá trị kinh tế cao: cá lóc, cá lăng, cá bống tượng, …trong hồ hay sông Đồng Nai, hồ Thác Mơ. Tỉnh tiếp tục phát huy, kiểm soát an toàn sinh học và đa dạng sinh học theo quy  trình. Chú trọng vấn đề môi trường đối với hệ sinh thái nông nghiệp và phát huy các mô hình  tận dụng đất đai, tận dụng tài nguyên rừng, tài nguyên nước trong sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tiêu chí môi trường.

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành TW Đảng (khóa XI) "về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường", công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã được sự quan tâm của các cấp ủy, chính quyền, sự tham gia đông đảo, nhiệt tình của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hệ thống chính trị và nhân dân trong toàn tỉnh đã đã có sự chuyển biến nhận thức và hành động về vị trí, vai trò của việc chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Công tác phối hợp giữa các ban, sở, ngành, đoàn thể được chú trọng quan tâm. Công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đạt được những kết quả nhất định.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục:

- Một số cấp uỷ đảng, chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đối với công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong nhận thức còn thiên lệch nhiều về tăng trưởng kinh tế nên còn có những chủ trương, quyết định chưa cân nhắc kỹ đến vấn đề bảo vệ môi trường.

- Trong công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tập thể, cá nhân một số nơi thủ tục còn rườm rà, kéo dài thời gian, nảy sinh tiêu cực tạo dư luận không tốt trong xã hội.

- Chức năng quản lý tài nguyên còn chồng chéo giữa các ngành, dẫn đến việc đùn đẩy trách nhiệm; các quy định về sử dụng đất trong hoạt động khoáng sản được quy định trong Luật đất đai và Luật khoáng sản chưa thống nhất. Thủ tục hành chính trong lĩnh vực cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản còn nhiều phiền hà, không thống nhất với Luật đầu tư.

- Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa có nhận thức đầy đủ về công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, chưa có ý thức tốt trong việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường. Lực lượng cán bộ thanh tra môi trường còn quá mỏng, hành lang pháp lý vẫn còn nhiều bất cập nên các hoạt động này vẫn chưa thực sự chủ động, chế tài xử phạt chưa đầy đủ, mức xử phạt quá thấp, tính  răn đe chưa cao.

- Tình hình ô nhiễm môi trường trong các khu công nghiệp và khu dân cư gần các khu công nghiệp vẫn còn (tình trạng khói bụi, mùi hôi, nước thải chưa qua xử lý) nhiều năm chưa giải quyết dứt điểm, gây tâm lý bức xúc trong nhân dân.

- Hệ thống cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường ở các đô thị không đáp ứng được tốc độ đô thị hoá và sự gia tăng dân số cơ học; đặc biệt là hệ thống thoát nước, hệ thống thu gom, xử lý rác. Đến nay, ở tất cả các khu đô thị vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Chỉ có 01/11 huyện, thị có nhà máy xử lý rác thải tập trung (Thị xã Đồng Xoài), còn lại là các bãi rác lộ thiên, xử lý theo kiểu đốt hoặc chôn lấp.

- Việc cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu; triển khai Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Bình Phước giai đoạn 2012-2020; xây dựng hệ thống trạm quan trắc và cảnh báo thiên tai của tỉnh chưa thực hiện được.

Duy Khiêm

Lượt xem: 40

  • File đính kèm:

Bình luận

Video

xbiendao6.png.pagespeed.ic.PiV-wj50rF.jpg

Banner gửi tỉnh ủy.png

 logo.gif

prieng.png

QUANG CAO TUYEN GIAO.gif