Search

Bình Phước xây dựng và củng cố vùng căn cứ giải phóng vững mạnh phục vụ chung cho toàn miền Nam

Hiệp định Paris ký kết và được quốc tế thừa nhận. Vùng giải phóng của tỉnh bao gồm toàn bộ 2 huyện Lộc Ninh, Bù Đốp, 10 xã giải phóng cũ của huyện Bù Gia Mập (K28), 14 xã giải phóng cũ của huyện Bù Đăng (K29). Rừng già và rừng cao su chạy dọc hai bên quốc lộ 14 kéo dài là vùng giải phóng tiếp giáp với một số xã giải phóng: An Khương, An Quý, Minh Hòa, Minh Thạnh. Ở các đồn điền Xa Cát, Xa Cam, Xa Trạch, các thị trấn, thị tứ có một số ấp được giải phóng chen giữa các ấp, các xã còn bị địch kiểm soát. Vùng giải phóng đã mở đến hơn nửa số dân và đất đai, liên hoàn từ bắc xuống nam, từ đông sang tây. Những vùng thị trấn, thị tứ địch còn tạm thời kiểm soát đều nằm trong vòng vây của vùng giải phóng.

Việc xây dựng vùng giải phóng Bình Phước vững mạnh làm căn cứ phục vụ chung là yêu cầu cấp bách, tạo thuận lợi lớn trong việc xây dựng Bình Phước tiến nhanh, vững chắc, đáp ứng nhu cầu mới của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; tạo thế, tạo lực, tạo địa bàn đứng chân vững chắc để tấn công, buộc địch phải thi hành Hiệp định Paris.

Do yêu cầu cấp bách nên việc xây dựng vùng căn cứ giải phóng Bình Phước hết sức khẩn trương. Trước mắt tập trung toàn lực xây dựng ba huyện giải phóng hoàn toàn, trong đó, Lộc Ninh - thủ phủ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - là điểm trọng tâm. Trong một thời gian ngắn vùng giải phóng Bình Phước trở thành ngọn cờ hiệu triệu nhân dân còn ở trong vùng địch tạm thời kiểm soát.

Nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh Bình Phước lúc này hết sức nặng nề: một mặt lo giữ vững và phát triển thế, lực ở phía trước; mặt khác lo huy động mọi khả năng thực hiện nhiệm vụ xây dựng vùng căn cứ giải phóng, đáp ứng yêu cầu cấp bách đã được trên giao phó.

ttxvn_070415ho_chi_minh.jpg

Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Để tiếp sức địa phương, Trung ương Cục chi viện thêm nhiều đoàn cán bộ buổi đầu giúp đỡ xây dựng kế hoạch, góp sức chăm lo đời sống, chữa bệnh cho nhân dân. Tất cả đều hồ hởi, phấn khởi nhận nhiệm vụ, hăng hái đem hết khả năng của mình phục vụ chiến đấu. Việc trước tiên là tiến hành phát động, giáo dục quần chúng nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí vùng căn cứ giải phóng. Đồng thời với công tác chính trị tư tưởng, nhanh chóng tiến hành xây dựng bộ máy đảng, chính quyền, các ngành, các đoàn thể, xây dựng lực lượng du kích, động viên thanh niên tòng quân, xây dựng các ngành kinh tế, văn hóa – xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Ngành nông nghiệp đã động viên quần chúng ra sức sản xuất với phương châm lấy ngắn nuôi dài. Số lúa và mì giống được chi viện cho vụ mùa năm 1972, qua sản xuất quần chúng đã dự trữ giống, tương trợ lẫn nhau đã để có đủ cho diện tích gieo trồng vụ mùa năm 1973. Để giải quyết khó khăn về giống ngắn ngày, trên chi viện thêm 8 tấn đậu phộng, 31 tấn khoai lang, 2 tấn củ chuối nước và 9,3 tấn bắp vàng. Cán bộ nông nghiệp đã trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn chu đáo kỹ thuật gieo trồng, thực hiện theo kế hoạch và đúng thời vụ. Năm 1973, được mùa lớn, lương thực quy ra gạo đạt 312 kg/người, vượt gần hơn gấp đôi năm 1972 (140kg/người). Trên cơ sở vụ mùa năm 1973, ngành nông nghiệp đã chuẩn bị kế hoạch phát triển sản xuất năm 1974 hoàn chỉnh và toàn diện hơn. Trong đó có kế hoạch khai thác hơn 200 ha cánh đồng Gia Ray (Bù Đốp), hơn 200ha bàu Thuận Kiệm, phục hóa 400 ha cánh đồng Lộc Khánh và 1.100 ha ở huyện Đồng Xoài.

Sau giải phóng Lộc Ninh, Bù Đốp, ngành cao su đã có kế hoạch và bắt tay vào việc phục hồi sản xuất. Số công nhân cạo mủ đã trở lại vườn cây. Nhà máy điện, nhà máy nước, nhà máy chế biến mủ tờ, mủ krep đã được phục hồi. Tính đến tháng 7-1973, ngành cao su Bình Phước đã gửi ra miền Bắc 17.000 tấn mủ krep. Vừa lo sản xuất vừa chuẩn bị mọi điều kiện cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm và cũng để bàn giao về Ban cao su Đông Nam Bộ quản lý.

Ngành công nghiệp bước đầu đã xây dựng được xưởng cơ khí, sửa chữa xe máy, sản xuất thủ công các phụ tùng thay thế cần thiết. Thành lập xưởng cưa, xẻ gỗ phục vụ xây dựng. Tổ chức xưởng kem, nước đá phục vụ đời sống nhân dân.

Cùng với việc phát triển kinh tế, ổn định đời sống vật chất, các hoạt động giáo dục, y tế, thông tin văn hóa cũng được đẩy mạnh.

Trong đà xây dựng căn cứ giải phóng vững mạnh, ngành giáo dục có một bước tiến đáng kể. Mùa hè năm 1973, ngành đã đào tạo, bồi dưỡng chính trị cho 159 giáo viên, trong đó có 38 giáo viên người dân tộc. Niên khóa 1973 – 1974, đã mở được 132 lớp cấp 1 với 3.513 học sinh và 2.161 học sinh cấp 2. Số học sinh đồng bào dân tộc tăng nhanh, cuối niên khóa 1972 – 1973 có 300 em, đến đầu niên khóa 1973 – 1974 tăng lên 502 em, các lớp học mở xuống tận thôn, ấp, buôn, sóc. Phong trào bình dân học vụ (xóa mù chữ) và bổ túc văn hóa được quan tâm phát triển khá nhanh. Các địa phương đã mở được 47 lớp, thu hút 750 cán bộ, du kích và người lớn theo học. Các cơ quan cấp tỉnh, huyện tổ chức bổ túc văn hóa cho 300 cán bộ, nhân viên (chưa kể hệ quân sự). Sự phát triển của ngành giáo dục đã đem đến không khí phấn khởi sôi nổi học tập cho các tầng lớp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ trong tỉnh.

Về văn hóa thông tin: Phân xã Thông tấn xã giải phóng được tổ chức lại, Đài Minh Ngữ tăng cường đưa tin hằng ngày. Trước yêu cầu mới, Tiểu ban tuyên truyền văn hóa văn nghệ trực thuộc Ban Tuyên huấn được thành lập, cung cấp tài liệu thông tin tuyên truyền thường xuyên làm nhiệm vụ thay thế cho tờ báo nam Tây Nguyên, tờ thông tin, tờ tin tức đã ấn hành trước đây. Tích cực xây dựng mạng lưới thông tin văn hóa cơ sở, hợp đồng với các đơn vị bộ đội kể cả với lực lượng chủ lực Miền đứng chân trên địa bàn, đêm đêm tập hợp thanh thiếu niên dạy ca hát, tổ chức các trò vui chơi giải trí. Trong đồng bào dân tộc phục hồi các hình thức văn nghệ dân gian, chủ yếu là hát đối đáp quanh ché rượu cần, khôi phục nét văn hóa cồng chiêng. Để nâng cao chất lượng biểu diễn, Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh chỉ đạo hợp nhất Đoàn văn công của tỉnh với Đoàn văn công giải phóng thuộc Ban Tuyên huấn thành Đoàn văn công tổng hợp ca múa nhạc.

Trong phong trào xây dựng vừng căn cứ giải phóng vững mạnh, ngành y tế đã phấn đấu tổ chức được mạng lưới y tế cơ sở đều khắp. Đào tạo được 86 y tá, hộ sinh, dược tá và 6 đông dược, tập huấn cho 738 nhân viên y tế làm việc tại chỗ, xây dựng 2 trạm xá khu vực, lập 32 Ban y tế xã, đưa Bệnh viện Bù Đốp, Lộc Ninh ra thị trấn, lấy Bệnh viện đồn điền cao su Viễn Đông, nâng cấp Bệnh viện tỉnh Bình Phước. Tăng cường bác sĩ xuống huyện, y sĩ xuống xã. Tuyên truyền và giúp đỡ nhân dân thực hiện vệ sinh phòng bệnh, vận động đồng bào dân tộc dùng bát, đĩa, muỗng trong bữa ăn, uống sôi, bỏ tập quán ăn bốc.

Tháng 11- 1973, Tuy Đức được giải phóng, con đường hành lang chiến lược vận tải bằng cơ giới được mở rộng và thông suốt từ miền Bắc hậu phương lớn đến vùng giải phóng Bình Phước. Trung ương phê chuẩn kế hoạch xây dựng con đường Trường Sơn nhiều tuyến xuyên qua Bù Gia Mập vào đến Lộc Ninh.

Lúc này, Bình Phước đã đủ sức đảm đương, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ vùng giải phóng được Trung ương Cục giao phó. Ngoài Tiểu đoàn 203 đã thành lập trước đây, tỉnh thành lập thêm Tiểu đoàn bộ binh 208, 1 đại đội hỏa lực và 2 đại đội đặc công – các huyện, thị đều tăng quân số và đơn vị. Mỗi huyện đã có 1 đến 2 đại đội bộ binh, 1 trung đội trợ chiến và 1 trung đội trinh sát… Các đơn vị vũ trang tập trung luôn luôn gắn bó với du kích xã, ấp và du kích tự vệ các cơ quan tỉnh, huyện, gắn bó với bộ đội chủ lực đứng chân trên địa bàn. Tỉnh ủy đề cao cảnh giác, chỉ đạo mở cuộc vận động lớn đào hầm trú ẩn tránh bom đạn, chuẩn bị túi thuốc phòng không ở các đơn vị, các địa bàn. Phân tuyến cấp cứu, bố trí lực lượng khắc phục hậu quả nếu máy bay địch liều lĩnh đánh phá.

Để bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, Tỉnh ủy cùng ngành dọc đã đưa lực lượng an ninh ra công khai từ tỉnh đến cơ sở làm nhiệm vụ xây dựng vùng giải phóng vững mạnh. Ở vùng giải phóng, bộ phận ra hoạt động công khai đã mở lớp đào tạo an ninh cơ sở, xây dựng lực lượng an ninh nhân dân ở hầu hết các xã trong vùng giải phóng; xây dựng lực lượng an ninh vũ trang xã; mở lớp trinh sát bảo vệ chính trị; tiến hành phát động, tổ chức phong trào quần chúng làm công tác an ninh. Qua đó, quần chúng đã phát hiện, cung cấp cho ta nhiều tin tức và các đối tượng nghi vấn.

Năm 1973, hàng chi viện từ miền Bắc đưa vào tập kết ở trạm “đầu cầu” (Bù Gia Mập, Bù Đốp, Lộc Ninh) tăng gấp 4 lần so với năm 1972. Để tăng nhanh hơn nữa mức độ tiếp nhận số lượng hàng hóa, vũ khí, trạm “đầu cầu” đã xây dựng thêm kho tàng. Đường vận chuyển bộ và đường xe thồ được mở ra nhiều cánh. Các binh chủng công binh và hậu cần của Miền kết hợp chặt chẽ với dân công, thanh niên xung phong của tỉnh đã xây dựng đường giao thông vận tải lớn cho ô tô đi về.

Từ trạm “đầu cầu”, đường dọc, đường ngang, đường về phía sau, đường ra phía trước, đường đến các đoàn hậu cần, các quân khu được hình thành. Những tuyến đường dài: từ Lộc Ninh, Bù Đốp xuống Đoàn hậu cần 814 (đông và đông nam Sài Gòn) nối với Quân khu 6, Quân khu 7; từ Lộc Ninh qua Đoàn hậu cần 220 xuống Đoàn hậu cần 230 (tây nam Sài Gòn). Từ đoàn hậu cần 220 xuống Đoàn hậu cần 235 (bắc và tây bắc Sài Gòn), áp sát vùng ven Sài Gòn … được thông suốt. Cũng trong năm 1973, đường ống dẫn xăng dầu đã lắp đặt đến Lộc Ninh, với tổng chiều dài 1.399km. Chiến trường B2 được xây dựng 5 trạm, thì trên đất Bình Phước có 3 trạm: VK94 ở ngã ba Lộc Tấn, VK69 ở cách trung tâm Bù Gia Mập 3km, VK98 ở sóc Bù Nồm xã Lộc Quang. Đây là các trạm chính gồm 7 bồn chứa nối liền nhau, mỗi bồn 250.000 lít, đủ bảo đảm cho các binh chủng tăng, cơ giới tiến về Sài Gòn.

Đường điện thoại hữu tuyến từ Hà Nội cũng vào tới Lộc Ninh để Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền liên hệ trực tiếp với Trung ương Đảng và Bộ Tổng tham mưu. Do yêu cầu hoạt động của chiến trường ngày càng phát triển, cần có lực lượng và phương tiện để bổ sung nên các xưởng như xưởng quân trang, quân giới, đại tu xe, máy, mộc, chế biến thực phẩm, sản xuất thuốc, y cụ, các trạm sửa chữa điện, cơ khí, Trường dạy lái xe, Trường trung cấp kỹ thuật, Trường sĩ quan cao xạ, Trường thiếu sinh quân được xây dựng trong vùng căn cứ địa Bình Phước, chủ yếu là ven trục lộ từ xã Thanh Hòa, Bù Đốp đến Lộc Thành, Lộc Ninh.

Cũng trong năm 1973, quân và dân Bình Phước còn được phục vụ Hội nghị quân chính toàn Miền (9-1973) ở làng 2 (Lộc Thiện), Hội nghị học Nghị quyết 21 Trung ương của toàn thể cán bộ cấp cao toàn Miền (10-1973) và Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn Miền (3-11-1973) tại rừng Lộc Khánh.

Từ những biến đổi lớn lao trên lĩnh vực hậu cần đến những đại hội và hội nghị cấp cao của toàn Miền được tổ chức tại Lộc Ninh đều thành công tốt đẹp. Đây là thắng lợi của cách mạng miền Nam, đồng thời cũng nói lên vùng giải phóng tỉnh Bình Phước đã phát triển bảo đảm điều kiện xây dựng một khu căn cứ địa rộng lớn, an toàn của Trung ương Cục và Quân ủy Miền.

Anh Đức

 

Lượt xem: 28

  • File đính kèm:

Bình luận

Video

xbiendao6.png.pagespeed.ic.PiV-wj50rF.jpg

Banner gửi tỉnh ủy.png

 logo.gif

prieng.png

QUANG CAO TUYEN GIAO.gif