Search

Kết quả thực Kết luận số 43-KL/TW ngày 01/04/2009 của Bộ Chính trị (khóa X) “về công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở” trên địa bàn huyện Đồng Phú

 

Thực hiện Kết luận 43-KL/TW, Huyện ủy đã tập trung chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, các Chi, Đảng bộ trực thuộc đẩy mạnh việc tuyên truyền, thông tin, giáo dục các kiến thức về chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh đảm bảo cập nhật, thường xuyên. Thực hiện mục tiêu đã đề ra trong Chương trình hành động số 19-CTr/HU, ngày 05/10/2009 triển khai thực hiện Kết luận số 43-KL/TW của Bộ Chính trị, UBND huyện đã chỉ đạo ngành y tế và các ngành chức năng xây dựng kế hoạch, cụ thể hóa Nghị quyết vào hoạt động của ngành, đơn vị. Trong đó đề cao vai trò chủ động phối hợp thực hiện giữa các ban, ngành, đoàn thể trong việc tuyên truyền, phổ biến Kết luận; xây dựng cơ chế phối hợp giữa Chính quyền các cấp và Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội và cộng đồng nhằm đưa Kết luận vào cuộc sống. 

Hiện nay, mạng lưới y tế được tổ chức đồng bộ và phủ rộng từ huyện đến xã, thị trấn; Với tuyến huyện có 03 cơ quan, đơn vị đó là: Phòng Y tế thực hiện chức năng quản lý Nhà nước; Trung tâm Y tế huyện thành lập trên cơ sở sáp nhập (Trung tâm Y tế và Bệnh viện đa khoa huyện hiện nay thực hiện 02 chức năng dự phòng và điều trị); Trung tâm DS-KHHGĐ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và DS-KHHGĐ. Tuyến cơ sở 11/11 xã, thị trấn có Trạm Y tế, 100% ấp, khu phố có nhân viên y tế thôn bản và cộng tác viên DS-KHHGĐ. Ngoài ra huyện còn có Hội đông y huyện, 11 chi Hội đông y xã, thị trấn, 01 Phòng chẩn trị đông y và 20 tổ hội đông y trực thuộc.

Tổng số giường bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn huyện là 175 giường, trong đó: Trung tâm Y tế huyện: 60 giường (giường kế hoạch là 50, giường thực kê là 60); Bệnh viện Đa khoa Công ty Cổ phần cao su Đồng Phú 40 giường; Trạm Y tế xã, thị trấn 55 giường; Trạm Y tế Nông trường Cao su 20 giường; tỷ lệ giường bệnh/10.000 dân đạt 10,6 (không tính giường bệnh của Trạm Y tế).

Từ năm 2009  – 2018, đã bố trí kinh phí xây mới Trung tâm Y tế huyện (tổng kinh phí 3.238.195.346 đồng); nâng cấp, sửa chữa Bệnh viện Đa khoa huyện và Trung tâm Y tế huyện (với tổng kinh phí 3.949.455.850 đồng); xây mới một Trạm Y tế xã (với tổng kinh phí  2.130.461.797 đồng); nâng cấp, sửa chữa 8 Trạm Y tế xã, thị trấn (với tổng kinh phí 6.162.050.163 đồng).

Việc cấp kinh phí hoạt động của trạm y tế xã, thị trấn đước quan tâm, năm 2009, 2010 mỗi Trạm Y tế xã được cấp ngân sách hoạt động là 12.000.000 đồng/năm. Từ năm 2011 đến năm 2016, ngân sách hoạt động đã được nâng lên 36.000.000 đồng/năm và từ năm 2017 đến nay, kinh phí hoạt động của Trạm Y tế tăng lên 50.000.000 đồng/năm, tạo điều kiện để hoạt động của Trạm Y tế được đảm bảo.

IMG_1521.JPG

Ban Tuyên giáo Huyện ủy Đồng Phú khảo sát thực tế tại Trạm Y tế xã Tân Lập

Hiện toàn ngành y tế trên địa bàn huyện là 273 cán bộ y tế, trong đó: Tuyến huyện 123 cán bộ: Bác sỹ 20 (trong đó bác sỹ chuyên khoa I: 06); Đại học Dược: 03; Đại học khác 08; Cử nhân điều dưỡng 03; Cao đẳng 04; trung cấp Y 23; trung cấp dược 09; nữ hộ sinh trung học 16; điều dưỡng trung học 16; kỹ thuật viên xét nghiệm 03 và khác 18. Tuyến xã, thị trấn có 56 cán bộ (bác sỹ 10; cao đẳng dược 01; trung cấp Y 20; trung cấp dược 10; nữ hộ sinh trung học 11; điều dưỡng trung học 04); 11 viên chức DS-KHHGĐ xã, thị trấn; Bệnh viện Đa khoa Công ty cao su Đồng Phú 40 cán bộ gồm: 05 bác sỹ (01 bác sỹ CKI), 09 y sỹ, 04 DSTH, 01 NHS, 05 ĐDTH, 02 KTV, 06 dược tá, y tá, lương y, 08 cán bộ khác; Y tế Nông trường Cao su 21 cán bộ: trong đó 04 bác sỹ, 10 y sỹ, 02 DSTH, 04 NHS, 01 dược tá.

     Tỷ lệ bác sỹ/10.000 dân đạt 5,8. Trung bình mỗi Trạm Y tế xã, thị trấn có 5,09 cán bộ y tế; 73/73 khu phố, ấp có nhân viên y tế thôn bản; 09/11 Trạm Y tế có bác sỹ và 02 bác sỹ Trung tâm Y tế luân phiên khám, chữa bệnh tại 02 Trạm Y tế chưa có bác sỹ (Tân Phú, Tân Tiến). Từ năm 2006 - 2018, số cán bộ y tế cơ sở được cử đi đào tạo đại học 34 người. 8 cán bộ được cử đi học chuyên khoa I (Nội-Ngoại-Sản), nhiều cán bộ được cử đi đào tạo ngắn hạn các chuyên khoa để nâng cao trình độ chuyên môn.

Công tác phòng, chống dịch bệnh được Trung tâm Y tế huyện chủ động thực hiện thường xuyên, tích cực tuyên truyền bằng nhiều hình thức về phòng chống các bệnh xã hội, bệnh truyền nhiễm, vệ sinh an toàn thực phẩm. Hàng tháng cấp vắc xin về cho các Trạm thực hiện tiêm phòng cho trẻ. Khám phát hiện bệnh và điều trị, quản lý bệnh nhân trong các chương trình phòng chống bệnh xã hội theo quy định. Các hoạt động giám sát, phòng chống dịch bệnh được tăng cường không để dịch bệnh lây lan bùng phát. Chỉ đạo, hướng dẫn các Trạm Y tế xã, thị trấn triển khai thực hiện Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế và các Chương trình mục tiêu quốc gia, vệ sinh phòng dịch. Tăng cường giám sát dịch, chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị, thuốc, phương tiện sẵn sàng ứng phó khi có dịch xảy ra.

Công tác DS-KHHGĐ, chăm sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em: Công tác DS-KHHGĐ, Công tác chăm sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em được quan tâm triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất từ huyện đến xã, thị trấn; công tác thông tin, tuyên truyền, vận động người dân thực hiện chính sách, pháp luật về DS-KHHGĐ được triển khai thường xuyên, hiệu quả, tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành vi của nhân dân; độ bao phủ việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại được mở rộng góp phần thực hiện mục tiêu giảm sinh và sinh con ngoài ý muốn.

 Các loại hình chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng đa dạng, cơ sở y tế tư nhân hàng năm tăng (năm 2005 có 60 cơ sở; năm 2011 có hơn 85 cơ sở và đến tháng 5/2018 có 139 cơ sơ, trong đó có 01 Phòng khám đa khoa, 23 phòng khám ngoài giờ, 102 quầy thuốc tư nhân, 12 cơ sở lương y, 01 cơ sở dịch vụ). Hệ thống y tế Cao su và y tế Binh đoàn 16 tích cực tham gia khám chữa bệnh cho người dân, góp phần đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân địa phương, đồng thời phối hợp cùng ngành y tế huyện thực hiện các Nghị quyết, Chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực y tế. Công tác giám định, thẩm định và thanh, quyết toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT đảm bảo kịp thời, đúng quy định. Tổng số người tham gia BHYT trên địa bàn huyện tăng hằng năm. Năm 2005 chỉ đạt 7.300 người, năm 2011 là 28.248 người và đến cuối năm 2017 là 82.156 người, đạt tỷ lệ 88,86%; phấn đấu đến năm 2020, có hơn 90% dân số tham gia BHYT.

Ngành Y tế thực hiện chế độ chính sách cho cán bộ y tế theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo đầy đủ, kịp thời và đúng nội dung, định mức. Từ năm 2009 – 6/2016, kinh phí hoạt động của Trung tâm Y tế huyện và các Trạm Y tế xã, thị trấn do ngân sách huyện đảm bảo; từ tháng 6/2016 đến nay, kinh phí hoạt động của Trung tâm Y tế huyện và các Trạm Y tế xã, thị trấn do ngân sách tỉnh đảm bảo (do Trung tâm Y tế huyện và các Trạm Y tế xã, thị trấn chuyển giao cho Sở Y tế quản lý).

- Công tác kiểm tra an toàn thực phẩm: Công tác kiểm tra về an toàn thực phẩm được ngành Y tế và các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai thường xuyên, định kỳ; kiểm tra đối với tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm và dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện theo phân cấp quản lý. Trong giai đoạn 2011 – 2017, tổng số lượt cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm được kiểm tra là 3.915 lượt cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính 385 cơ sở với tổng số tiền trên 287.821.000 đồng.

- Công tác kiểm tra hành nghề y dược tư nhân (HNYDTN): Hoạt động kiểm tra liên ngành về HNYDTN do Phòng Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện. Hằng năm, căn cứ Chương trình, Kế hoạch, chỉ đạo của cấp trên và chức năng, nhiệm vụ được giao, Huyện ủy chỉ đạo UBND huyện ban hành các văn bản triển khai công tác kiểm tra liên ngành về HNYDTN trên địa bàn; trên cơ sở phê duyệt, chỉ đạo của UBND huyện, Phòng Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai công tác kiểm tra liên ngành về HNYDTN thường xuyên, đạt được những kết quả bước đầu. Đã tổ chức 15 Đoàn kiểm tra liên ngành về HNYDTN; thực hiện kiểm tra được 402 lượt cơ sở HNYDTN; phát hiện và tham mưu UBND huyện xử phạt vi phạm hành chính đối với 52 lượt cơ sở HNYDTN vi phạm với tổng số tiền 85.200.000 đồng.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong quá trình thực hiện Kết luận 43-KL/TW của Trung ương cần khắc phục:

- Một số trang thiết bị y tế do Trung ương cấp về hoặc đầu tư thiếu đồng bộ không được sử dụng gây lãng phí.

- Đội ngũ y, bác sỹ chuyên khoa còn thiếu.

- Công tác xã hội hóa trên lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nhân dân chưa thực hiện rộng rãi, thu hút các nguồn lực đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe chưa nhiều.

- Hệ thống xử lý rác thải y tế tại Trung tâm Y tế huyện chưa xử lý được toàn bộ lượng rác thải y tế phát sinh (mới xử lý được 50% lượng rác thải rắn y tế).

- Đội ngũ cộng tác viên DS-KHHGĐ thường xuyên biến động, gây khó khăn cho công tác đào tạo và quản lý DS-KHHGĐ trên địa bàn; việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật CSSKSS/KHHGĐ còn hạn chế.

- Công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục truyền thông nhằm thay đổi hành vi sức khoẻ chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là trong các lĩnh vực y tế dự phòng, an toàn vệ sinh thực phẩm.

- Một số xã, Ban chăm sóc sức khoẻ nhân dân được thành lập nhưng hoạt động chưa hiệu quả; công tác đánh giá, kiểm tra, sơ kết rút kinh ngiệm còn mang tính hình thức.

 Duy Khiêm

Lượt xem: 23

  • File đính kèm:

Bình luận

Video

xbiendao6.png.pagespeed.ic.PiV-wj50rF.jpg

Banner gửi tỉnh ủy.png

 logo.gif

prieng.png

QUANG CAO TUYEN GIAO.gif