Search

Liên kết website

Thống kê truy cập

Đang online: 272

Hôm nay: 1.652

Lượt truy cập: 1.593.904

nhandanBTG.jpg

dangcsBTG.jpg

desertsv_EHA71GDCBF65Z.JPG

xaydungdangBTG.jpg

tuyengiaoBTG.jpg

binhphuoc.gif

congbao.gif

BAOHIEM.gif

logo phu rieng.png

LOC NINH.jpg

CAO SU SONG BE.jpg

newimagesv_1AZCGD65EF7HB.jpg

 

Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh cụ Nguyễn Văn Tố (5/6/1889 - 5/6/2019): CỤ NGUYỄN VĂN TỐ VỚI HỘI TRUYỀN BÁ QUỐC NGỮ

Nguyễn Văn Tố (hiệu là Ứng hòe) sinh năm 1889 ở Hà Nội, trong một gia đình nhà nho yêu nước. Cụ được nhiều người biết đến bởi sự đức độ, tài năng với nhiều công trình nghiên cứu khoa học rất có giá trị về lịch sử, văn hóa nước nhà, uyên thâm Hán học, vừa tinh thông Tây học. Cụ Nguyễn Văn Tố có những bài biên khảo và nghiên cứu lịch sử, văn hóa rất phong phú, đa dạng, thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc sâu sắc.

Đặc biệt, cụ Nguyễn Văn Tố luôn đau đáu với việc khảo cứu lịch sử nước nhà với mong muốn mau chóng viết nên “một quyển Nam Sử thật có giá trị”. Cụ đã để lại nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và liên ngành, bao quát nhiều lĩnh vực khoa học như lịch sử, văn học, văn bản học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, dân tộc học, tôn giáo, văn hóa dân gian...

Đặc biệt trong những năm 1936-1939, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương phổ biến chữ quốc ngữ, xoá nạn mù chữ, từng bước nâng cao dân trí, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng của thời kỳ mới. Khi đó, trước vấn nạn mù chữ của dân tộc, cùng với yêu cầu thiết tha của nhân dân lao động thất học, các nhân sĩ trí thức cũng nhận thấy cần phải tiếp tục công cuộc truyền bá quốc ngữ, nên đã họp bàn để tiến đến thành lập hội chống nạn mù chữ. Các trí thức tân học tiêu biểu như Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu... đã mời Nguyễn Văn Tố - Hội trưởng Hội Trí Tri làm Hội trưởng Hội truyền bá học chữ quốc ngữ, với mục tiêu dạy cho người bình dân lao động mù chữ biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Được giao đảm nhiệm việc làm thủ tục, ông đã gửi đơn đến Thống sứ Bắc Kỳ xin thành lập Hội theo pháp luật hiện hành (trụ sở đặt cùng Hội đồng Trí Tri, 59 phố Hàng Đàn cũ, nay là 47 Hàng Quạt, Hà Nội).

Hội thảo khoa học quốc gia “Nguyễn Văn Tố với cách mạng Việt Nam” - Ảnh 2

Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố (hàng đầu bên trái) tại Lễ mít tinh vận động cứu đói tại Nhà hát Lớn Hà Nội, năm 1945

Trong khi đơn xin lập Hội đã gửi đi, nhưng Thống sứ Bắc Kỳ - Saten còn đang điều tra chưa ký quyết định thì ngày 25/5/1938, Hội truyền bá quốc ngữ đã tổ chức diễn thuyết, cổ động cho việc truyền bá quốc ngữ với sự tham gia của hàng nghìn người: “Đúng 9 giờ, ông Nguyễn Văn Tố bước lên diễn đàn, kể qua về lịch sử chữ quốc ngữ và mục đích Hội truyền bá quốc ngữ hiện đang thành lập, cùng cảm ơn công chúng đã đến dự cuộc hội họp đông đến thế”. Phải đến ngày 29/7/1938, Thống sứ Bắc Kỳ mới ký giấy công nhận sự hoạt động hợp pháp của Hội và ngày 9/9/1938, Hội mới khai giảng khóa học đầu tiên, song âm hưởng của Hội đã lan truyền từ ngày 25/5, khi cụ Nguyễn Văn Tố đăng đàn diễn thuyết và ngày này được coi là ngày thành lập Hội.

Là người có học thức uyên bác, sống thanh sạch, không màng danh lợi lại trung thực và khảng khái nên Nguyễn Văn Tố rất có uy tín đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trí thức, thanh niên và cả đối với nhiều người Pháp. Ông thuộc lớp nhân sĩ, trí thức yêu nước lấy con đường hoạt động văn hóa, nâng cao dân trí làm sự nghiệp của mình và nỗ lực hết mình cho sự nghiệp khai dân trí, chấn dân khí của đất nước. Sự ra đời và hoạt động của Hội luôn bị thực dân Pháp kiểm soát, ngăn cản và mặc dù hội trưởng Nguyễn Văn Tố đã nhiều lần bị Sở Mật thám triệu tập làm khó, nhưng với lý lẽ đúng mực của ông, người Pháp đã không thể có cớ để ngăn cản hoạt động của Hội. Mặt khác, khi chính quyền thực dân ngỏ ý muốn trợ cấp, âm mưu lôi kéo Hội, ông đã bình tĩnh để vô hiệu hóa âm mưu đó; đồng thời, ông cũng uốn nắn kịp thời những hành vi quá khích của một số thanh niên rất hăng hái thành ra quá tả, dễ bị kích động để duy trì và bảo vệ được tổ chức Hội.

Quá trình phổ biến chữ quốc ngữ của Hội thực sự trở thành một phong trào sâu rộng và mạnh mẽ, để lại những tác động, ảnh hưởng to lớn đến xã hội Việt Nam. Về việc học chữ quốc ngữ, cụ Nguyễn Văn Tố khẳng định rằng: “Học không những để biết các lẽ hành động của quốc gia, biết những điều chân lý cốt yếu cho đạo xử thế, lại còn để biết mê sự đạo đức... biết đời người có những mục đích cao thượng, nên ra công cố sức mà sống cho xứng đáng. Thực thế: Có học thì mới biết những lý tưởng làm gốc cho quốc hồn: lý tưởng yêu nước, lý tưởng ham học, lý tưởng ăn ở theo đạo đức. Một nhà thông thái nước Pháp đã nói rằng: “Hễ có một cái lý tưởng cao như thế, thì bụng nghĩ việc làm như có ánh sáng vô hạn chiếu qua vào”.

Với bản lĩnh và sự nỗ lực của hội trưởng Nguyễn Văn Tố cùng các cộng sự đầy trách nhiệm, vượt qua muôn vàn khó khăn, trở ngại do chính quyền thực dân Pháp gây ra, Hội truyền bá quốc ngữ đã phát triển và thành lập được 20 chi hội ở Bắc Kỳ, 11 chi hội ở Trung Kỳ và 8 chi hội ở Nam Kỳ; số giáo viên của Hội lên tới năm nghìn. Hội đã phát triển thành một phong trào rộng ở nhiều nơi trong cả nước, dẫn đến thành lập Tổng Hội: “Trong suốt thời gian ngắn chính thức sinh hoạt, kể từ năm 1939 cho đến 1944, mọi công việc đối nội và đối ngoại của Hội đều hanh thông nhờ biết phát huy tinh thần tự nguyện vì nghĩa lớn dân tộc, cho nên Hội đã sớm được nâng cấp Tổng Hội để đưa được hơn năm vạn người thất học thoát khỏi nạn mù chữ. Đó là một kỳ tích đọng lại nhiều ấn tượng sâu lắng trong lòng quần chúng đang khát khao được học tiếng mẹ đẻ, viết đúng tiếng Việt để có cơ hội tốt đọc được sách báo mở mang dân trí, nâng cao dân khí”.

Hội truyền bá quốc ngữ và người hội trưởng Nguyễn Văn Tố đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp chống nạn mù chữ, vì đã tổ chức được một phong trào học tập sôi nổi, rộng khắp trong nhân dân. Hội đã khơi dậy lòng nhiệt huyết của quần chúng, nhất là lòng yêu nước, sự tự hào dân tộc về truyền thống hiếu học vốn đã có trong mỗi người Việt Nam; khơi dậy truyền thống hiếu học của quần chúng nhân dân gắn liền với lòng nhiệt huyết, sự hy sinh của các nhà trí thức yêu nước. Trong suốt bảy năm lãnh đạo Hội (1938-1945), hoạt động của Hội truyền bá quốc ngữ phải đương đầu với không ít những khó khăn, bão táp, nhưng với vị thế và trọng trách của mình, hội trưởng Nguyễn Văn Tố đã lãnh đạo Hội hoạt động đúng mục đích. Những tình huống xử lý trong quá trình lãnh đạo của người Hội trưởng Hội truyền bá quốc ngữ đã không chỉ thể hiện sự tài tình và khéo léo của người trí thức Hà Thành mà quan trọng hơn là giúp Hội tiếp tục đứng vững và phát triển ở khắp ba miền Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, góp phần to lớn vào thắng lợi của Hội truyền bá quốc ngữ trong cả nước. Nói như luật sư Vũ Đình Hòe, thì “cụ khéo ngoại giao với các cụ lớn Tây, Ta, sách lược khi cương khi nhu, có lùi có tiến, nhờ vậy, Hội nhiều phen vượt thác ghềnh suôn sẻ”; phát triển rộng khắp từ thành thị đến những làng quê hẻo lánh, từ miền Bắc lan rộng vào miền Trung, miền Nam đến Lào và Cămpuchia, tạo nên một phong trào truyền bá quốc ngữ có ảnh hưởng khắp cả nước, tác động đến mọi tầng lớp trong xã hội lúc bấy giờ.

Hội thảo khoa học quốc gia “Nguyễn Văn Tố với cách mạng Việt Nam” - Ảnh 1Toàn cảnh hội thảo khoa học cấp quốc gia "Nguyễn Văn Tố với cách mạng Việt Nam"

Việc truyền bá học chữ quốc ngữ được xem như một nền tảng vững chắc giúp cho người dân giác ngộ cách mạng vùng lên tranh đấu. Đó là một mốc son về văn hóa - giáo dục của nước nhà. Trong mốc son ấy, nhân dân ta không quên công lao của người thuyền trưởng truyền bá quốc ngữ Nguyễn Văn Tố. Hội truyền bá quốc ngữ không chỉ giúp đỡ nhân dân lao động nghèo khổ thoát khỏi cảnh tối tăm mù chữ, mà còn đóng góp to lớn vào việc bãi bỏ những hủ tục lạc hậu của xã hội Việt Nam; đồng thời, để lại cơ sở, phương pháp và con người cho phong trào Bình dân học vụ sau ngày cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công tiếp tục sự nghiệp “nâng cao dân trí”. Bên cạnh đó, với tư cách là một tổ chức hoạt động hợp pháp, nhiều hội viên, giáo viên của Hội đã nhanh chóng tham gia vào phong trào cách mạng, tích cực tuyên truyền chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia và đóng góp vào sự thắng lợi của cách mạng Tháng Tám 1945. Sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn chữ quốc ngữ làm chữ viết chính thức cho dân tộc. Từ đây, chữ quốc ngữ giữ địa vị độc tôn trong xã hội Việt Nam với vai trò gìn giữ, xây dựng và quảng bá nền văn hoá, văn minh Việt Nam trong thời kỳ mới.

Chỉ sáu ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 8/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh số 19/SL thành lập Nha bình dân học vụ, để “trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối”, nhằm mục đích xoá nạn mù chữ cho nhân dân lao động. Khi đó, với trọng trách của mình, cụ Nguyễn Văn Tố đã cùng các thành viên Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân ta một mặt kiên cường đấu tranh, bảo vệ nền dân chủ cộng hòa non trẻ vừa giành được; mặt khác, từng bước thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt giặc dốt (một trong ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm đang đe doạ sự tồn vong của nước Việt Nam độc lập).

Là Trưởng ban Thường trực Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cụ Nguyễn Văn Tố đã cùng các thành viên Ban Thường trực Quốc hội phối hợp chặt chẽ với Chính phủ, dành nhiều thời gian chỉ đạo các tiểu ban của Quốc hội cho ý kiến về các dự án sắc lệnh của Chính phủ; xét 98 dự án Sắc lệnh, những Sắc lệnh đó đều có tính cách các đạo luật; thông qua nhiều nghị quyết về nội trị, ngoại giao đồng thời, tích cực phối hợp với các bộ, ngành trong việc hoàn thành các nhiệm vụ cứu đói, bình dân học vụ, phòng chống thiên tai.

Gia Phúc (Tổng hợp)

Lượt xem: 59

  • File đính kèm:

Bình luận

Video

xbiendao6.png.pagespeed.ic.PiV-wj50rF.jpg

Banner gửi tỉnh ủy.png

 logo.gif

prieng.png

QUANG CAO TUYEN GIAO.gif