Search

Liên kết website

Thống kê truy cập

Đang online: 278

Hôm nay: 158

Lượt truy cập: 3.825.401

nhandanBTG.jpg

dangcsBTG.jpg

desertsv_EHA71GDCBF65Z.JPG

xaydungdangBTG.jpg

tuyengiaoBTG.jpg

binhphuoc.gif

congbao.gif

BAOHIEM.gif

logo phu rieng.png

LOC NINH.jpg

CAO SU SONG BE.jpg

 

 

KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG QUÂN KHU 7 (10/12/1945 - 10/12/2020): Khái quát về địa bàn và quá trình ra đời quân khu 7 (bài 1)

Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, ngày 10/12/1945, tại Bình Hòa Nam (ở xã Bình Hoà Nam, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An ngày nay), Xứ ủy lâm thời Nam Bộ họp hội nghị mở rộng, quyết định tổ chức Nam Bộ thành ba khu 7, 8 và 9. Từ đây, tổ chức quân sự theo vùng lãnh thổ Khu 7 ra đời do đồng chí Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng, đồng chí Trần Xuân Độ làm Chủ nhiệm Chính trị bộ và ngày 10/12/1945 trở thành ngày truyền thống của Quân khu 7.

Từ những chiến sĩ Vệ quốc đầu tiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự đùm bọc nuôi dưỡng của Nhân dân miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, Lực lượng vũ trang Quân khu 7 đã phát triển thành một đội quân hùng hậu, rộng khắp, càng đánh càng mạnh, lập nên những chiến công hiển hách, góp phần cùng quân và dân cả nước lần lượt đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bảy mươi lăm năm qua, dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, cán bộ, chiến sĩ LLVT và Nhân dân trên địa bàn Quân khu 7, bằng mồ hôi, xương máu, sức lực và trí tuệ của mình luôn phát huy truyền thống vẻ vang “Trung thành vô hạn, chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, đoàn kết quyết thắng”“Miền Đông gian lao mà anh dũng”, “Cực Nam bất khuất kiên trung” đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Truyền thống “Trung thành vô hạn, chủ động sáng tạo, tự lực, tự cường, đoàn kết quyết thắng” mãi mãi là niềm tự hào, nguồn động viên to lớn đối với quân và dân Quân khu 7 trong thời kỳ mới.

I. VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7

Quân khu 7 có diện tích 45.729,49 km2, dân số : 22.045.168 người (gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Ninh, Long An, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Phước và Bình Thuận), có 2 huyện đảo là Phú Quý và Côn Đảo. Phía Bắc -Tây Bắc Quân khu có đường biên giới giáp nước bạn Campuchia với chiều dài 615 km, phía Đông Bắc giáp Quân khu 5, phía Tây giáp Quân khu 9, phía Đông Nam giáp biển Đông, bờ biển dài 302 km (chưa tính Phú Quý và Côn Đảo).

Chiến sĩ trẻ LLVT Quân khu 7 tiếp bước truyền thống anh hùng.

Địa bàn Quân khu 7 với 3 vùng chiến lược (rừng núi, đồng bằng, đô thị), có 07 tỉnh - thành phố nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, kinh tế phát triển năng động thu hút một tỷ lệ lớn đầu tư nước ngoài. Không những có tiềm năng và vị thế vững vàng, mà còn là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội quan trọng ở phía Nam và cả nước.

Trong lịch sử chiến tranh, chiến trường miền Đông và cực Nam Trung bộ là cầu nối giữa các chiến trường miền Trung và Tây Nam bộ và là một bộ phận cấu thành của thế trận chiến trường Nam Đông Dương.

Miền Đông Nam bộ được lịch sử giao phó nhiệm vụ: “Đi trước về sau” trong cuộc chiến tranh giải phóng 30 năm của dân tộc. Mở đầu cuộc kháng chiến là ở miền Đông (Sài Gòn ngày 23/9/1945) và kết thúc cũng ở miền Đông (Sài Gòn ngày 30/4/1975).

Trong chiến tranh, ta xác định miền Đông là chiến trường thu hút tiêu diệt địch, Sài Gòn là trung tâm của phong trào đấu tranh đô thị và là điểm quyết chiến chiến lược cuối cùng, còn địch thì xác định miền Đông là vành đai bảo vệ đầu não sào huyệt cuối cùng, là chiến trường tập trung thực hiện biện pháp chiến lược “tìm - diệt”.

Ngày nay, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, trên địa bàn Quân khu, tình hình chính trị-xã hội cơ bản ổn định, kinh tế tăng trưởng khá (hàng năm khu vực này đóng góp trên 41% ngân sách cho cả nước); Quốc phòng - An ninh được củng cố, tăng cường; đối ngoại ngày càng rộng mở. Hệ thống chiến lược về quân sự, quốc phòng được Đảng, Nhà nước ban hành, triển khai đồng bộ, tạo cơ sở thuận lợi xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng đạt kết quả tích cực; Nhân dân tin Đảng, đồng thuận với chính quyền, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ LLVT, ra sức thi đua yêu nước, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, với vị trí chiến lược quan trọng của cả nước, địa bàn Quân khu 7 vẫn là trọng điểm của âm mưu “diễn biến hoà bình”, “Bạo loạn lật đổ” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH QUÂN KHU 7

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài gòn, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ 2. Quân và dân Nam bộ, trước hết là quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã thay mặt cả nước đứng lên chiến đấu, cuộc chiến lan rộng ra khắp miền Đông và sau đó là miền Tây Nam bộ.

Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, ngày 10/12/1945, tại Bình Hòa Nam (ở xã Bình Hoà Nam, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An ngày nay), Xứ ủy lâm thời Nam Bộ họp hội nghị mở rộng, quyết định tổ chức Nam Bộ thành ba khu 7, 8 và 9. Từ đây, tổ chức quân sự theo vùng lãnh thổ Khu 7 ra đời do đồng chí Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng, đồng chí Trần Xuân Độ làm Chủ nhiệm Chính trị bộ, và ngày 10/12/1945 trở thành ngày truyền thống của Quân khu 7.

Địa bàn Khu 7 khi thành lập gồm thành phố Sài Gòn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh. Đến tháng 12/1948 có quyết định thành lập khu Sài Gòn trực thuộc Bộ Tư lệnh Nam bộ thì Khu 7 chỉ còn lại các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh. Đến tháng 5/1950, Khu 7 và khu Sài Gòn - Chợ Lớn sáp nhập lại như cũ.

Tháng 6/1951, tổ chức chiến trường Nam bộ được chia thành 2 phân liên khu và 1 đặc khu. Đó là Phân liên khu miền Đông, Phân liên khu miền Tây (lấy sông Tiền làm ranh giới) và đặc khu Sài Gòn (Các tỉnh: Lâm Đồng, Bình Thuận trong kháng chiến chống Pháp thuộc Khu 5).

Phân liên khu miền Đông gồm các tỉnh: Thủ Biên (do Thủ Dầu Một và Biên Hòa sáp nhập), Gia Định Ninh (do Gia Định và Tây Ninh sáp nhập) Bà Chợ (do Bà Rịa và Chợ Lớn sáp nhập), Mỹ Tho (gồm Mỹ Tho, Gò Công và Tân An sáp nhập). Long Châu Sa (do phần Long Xuyên, phần Châu Đốc phía Đông sông Tiền và Sa Đéc sáp nhập). Toàn Nam bộ 20 tỉnh, lúc đó sáp nhập còn 10 tỉnh.

Sau Hiệp định Giơnevơ tháng 7/1954, chấp hành chỉ thị của trên, phần lớn các đơn vị bộ đội tập trung ở miền Đông, tập kết chuyển quân ra Bắc. Số cán bộ còn lại tiếp tục chuẩn bị lực lượng đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Hai phân liên khu miền Đông và miền Tây được lệnh giải thể chỉ còn giữ lại đặc khu Sài Gòn hoạt động bí mật.

Trong kháng chiến chống Mỹ, miền Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ thuộc chiến trường B2. Chiến trường B2 gồm Nam bộ, một phần cực Nam Trung bộ và Tây Nguyên (Lâm Đồng, Ninh Thuận và Đắc Lắc ngày nay). B2 bấy giờ chia thành 4 khu: Khu 6 (gồm phần cực Nam Trung bộ), Khu 7, Khu 8, Khu 9.

Riêng ở địa bàn miền Đông Nam bộ từ tháng 5/1961 có 2 Quân khu: Quân khu 7 (mật danh T1; gồm các tỉnh: Phước Ty, Long Khánh, Phước Long, Bình Long, Bình Dương, Tây Ninh, Biên Hòa, Bà Rịa) và Quân khu Sài Gòn-Gia Định (mật danh T4).

Đến tháng 10/1967, để tổ chức lại chiến trường chuẩn bị cho đợt Tổng công kích Mậu Thân 1968 trên quyết định giải thể Khu 7 và Quân khu Sài Gòn-Gia Định, tổ chức khu trọng điểm với trung tâm là Sài Gòn, chia địa bàn miền Đông (lúc này có thêm tỉnh Long An) ra làm 6 phân khu, trong đó có 5 phân khu trong và ven đô, hình thành các mũi tiến công vào Sài Gòn. Phân khu 1 (Bắc-Tây Bắc), Phân khu 2 (Tây-Tây Nam), Phân khu 3 (Tây Nam), Phân khu 4 (Đông Nam), Phân khu 5 (Đông-Đông Bắc), Phân khu 6 (Phân khu Trung tâm) và tổ chức 2 Bộ Tư lệnh (Bộ Tư lệnh tiền phương Bắc và Bộ Tư lệnh tiền phương Nam).

Đến thời kỳ chống “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ (1969 – 1972), năm phân khu (1, 2, 3, 4, 5) sáp nhập còn 4 phân khu (phân khu 2 và 3 sáp nhập thành phân khu 23) và phân khu nội đô (Trung tâm). Đến 19/8/1972, do vị trí của chiến trường miền Đông Nam bộ là chiến trường quan trọng nên trên quyết định thành lập lại Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn-Gia Định. Quân khu 7 lúc này gồm các tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh, Phước Bình (Phước Long - Bình Long), Tây Ninh, Bình Dương, Long An.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất đi lên CNXH để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 2/7/1976 Quân ủy Trung ương quyết định giải thể Bộ chỉ huy Miền (B2), thành lập các Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9. Quân khu 7 gồm 7 tỉnh thành: Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Ninh, Long An, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước. Từ tháng 5/1999, Quân khu 7 có thêm 2 tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng.

Gia Phúc

 

Lượt xem: 239

  • File đính kèm:

Bình luận

xbiendao6.png.pagespeed.ic.PiV-wj50rF.jpg

Banner gửi tỉnh ủy.png

 logo.gif

prieng.png

QUANG CAO TUYEN GIAO.gif