Search

Liên kết website

Thống kê truy cập

Đang online: 261

Hôm nay: 1.698

Lượt truy cập: 1.593.950

nhandanBTG.jpg

dangcsBTG.jpg

desertsv_EHA71GDCBF65Z.JPG

xaydungdangBTG.jpg

tuyengiaoBTG.jpg

binhphuoc.gif

congbao.gif

BAOHIEM.gif

logo phu rieng.png

LOC NINH.jpg

CAO SU SONG BE.jpg

newimagesv_1AZCGD65EF7HB.jpg

 

Nhìn nhận giá trị của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới ngày nay

Ngay từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới, đồng chí Phạm Văn Đồng trong một bài báo của mình đã khẳng định: đổi mới là văn hóa, văn hóa là đổi mới. Luận điểm đó của cố Thủ tướng như nhắc nhở mọi người rằng, càng đi sâu vào quá trình đổi mới, đất nước càng phải đối mặt với nhiều thách thức trong vấn đề văn hóa, con người. Văn hóa phải trở thành nguồn lực nội sinh của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Hơn 30 năm qua, trong quá trình đổi mới đất nước, nhận thức và lý luận của Đảng về văn hóa, con người đã có bước phát triển lớn. Những thành tựu đó có liên quan trực tiếp với việc khôi phục và làm sống lại những tư tưởng về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của giới tinh hoa của dân tộc trước đây và của tổ chức UNESCO. Có lẽ chưa bao giờ hai tiếng “văn hóa” lại trở nên phổ biến trong giao tiếp thường ngày của quần chúng như hiện nay. Và cũng chưa bao giờ trong các nghị quyết, trong các chương trình và dự án về kinh tế - xã hội... lại đề cập nhiều đến vấn đề văn hóa, con người như hiện nay.

Gần 20 năm trước, Đảng ta có Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Hội nghị Trung ương 9 khóa XI của Đảng có Nghị quyết “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Đến Đại hội Đảng lần thứ XII, vấn đề xây dựng văn hóa, con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến Chân, Thiện, Mỹ, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân tộc, dân chủ và khoa học, đã được cụ thể hóa bằng 8 nhiệm vụ lớn...

Như vậy, về phương diện nhận thức và lý luận, chúng ta đã khắc phục được sự phiến diện, lạc hậu. Nhưng một vấn đề mới lại được đặt ra: vì sao giữa lý luận và thực tiễn lại tồn tại một khoảng cách khá lớn. Trong Báo cáo chính trị trình Đại hội XII của Đảng, khi bàn về nguyên nhân gây nên sự suy yếu trên lĩnh vực văn hóa, đã viết: “Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này, lãnh đạo, chỉ đạo chưa quyết liệt. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới...”. Viết như vậy không sai, nhưng đã thật trúng chưa? Câu hỏi đó cần được đặt ra cho tất cả mọi người. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, để giải quyết đúng các vấn đề xã hội, cần phải có nhận thức đúng, đồng thời phải xác định đúng chỗ đứng của mình (cái mà ta gọi là lập trường, chính là chỗ đứng của ta). Thiếu cả hai cái đó thì làm sao có thể hành động đúng được. Về văn hóa, càng là như vậy, vì văn hóa liên quan đến những phẩm chất, những giá trị của con người. Văn hóa là Chân, Thiện, Mỹ. Ai không biết tôn trọng sự thật, ai ưa sống trong sự lừa dối, ai không có lòng nhân ái, chỉ “bo bo” cho cuộc sống bản thân mình, gia đình mình, ai không biết tôn trọng cái đẹp - cái đẹp trong thiên nhiên và cái đẹp trong xã hội - kẻ đó xa lạ với văn hóa. Cũng tương tự như vậy, hơn 50 năm về trước, nhân đến thăm lớp học nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin của cán bộ đảng viên, Bác Hồ nói: “Dân tộc ta từ xa xưa vốn sống với nhau rất có tình có nghĩa. Từ ngày có Đảng lãnh đạo, tình nghĩa đó đã phát triển thành tình đồng bào, đồng chí, tình cảm anh em bốn biển một nhà. Học chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu đọc bao nhiêu sách mà không biết sống với nhau cho có tình có nghĩa, thì làm sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”.

 

Kinh nghiệm chỉ ra rằng, đối với những cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ chủ chốt của các cấp, các ngành, nếu còn là “tù binh” của chủ nghĩa kinh tế, chỉ nhìn thấy giá trị vật chất mà quên lãng giá trị tinh thần, thì họ sẵn sàng đánh đổi những giá trị văn hóa để đổi lấy những dự án về kinh tế. 

 

Trở lại vấn đề văn hóa. Gần đây, trong quá trình phát triển lý luận, Đảng chỉ rõ: văn hóa là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc. Nhận thức ra các vấn đề đó, là kết quả của một quá trình tìm tòi của toàn xã hội, đặc biệt của giới tinh hoa của đất nước, do Đảng phát động. Vì vậy, đối với mỗi người, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, để hiểu đầy đủ các quan điểm đó, cũng cần phải được bồi dưỡng cả về tri thức, cả về phẩm chất tâm hồn.

Thực tế đã có lãnh đạo ở địa phương sẵn sàng từ bỏ danh hiệu cao quý di sản văn hóa quốc gia hoặc quốc tế của địa phương mình chỉ để “phát huy tối đa” nguồn lợi kinh tế từ những di sản văn hóa. Có không ít nơi cho phép một số tư nhân kinh doanh trong các lễ hội truyền thống, làm biến dạng các giá trị văn hóa đích thực của địa phương với mục đích lợi nhuận. Để có thái độ đúng với văn hóa, chăm lo cho sự phát triển văn hóa, cần có những hiểu biết về văn hóa, về vai trò to lớn của các giá trị văn hóa, lại phải có một tâm hồn trong sáng. Người lãnh đạo và quản lý văn hóa ở mỗi cấp, mỗi ngành đều phải là những con người có văn hóa. Trong số các nhiệm vụ đặt ra nhằm xây dựng và phát triển văn hóa, con người, Báo cáo chính trị tại Đại hội XII viết: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa”. Vấn đề này thực ra không mới. Trước kia, đã nhiều lần chúng ta nói tới. Tuy vậy, văn hóa là một lĩnh vực sản xuất tinh thần, vô cùng phức tạp. Như Lênin đã nói: trong lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật, không thể dùng cách quản lý hành chính, lấy số đông thống trị số ít. Trái lại phải bảo đảm một không gian rộng lớn cho tự do sáng tạo, cho óc tưởng tượng của các cá nhân. Lênin cũng từng khẳng định: nghệ thuật là thuộc về nhân dân, phải được nhân dân hiểu và yêu thích.

Ngay từ sau đổi mới, trong Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về công tác văn hóa, nghệ thuật, Đảng ta đã khẳng định: tự do sáng tạo là lẽ sống còn của văn hóa, văn nghệ. Đảng cũng đòi hỏi phải có thái độ khách quan, chu đáo đối với tác phẩm và các văn nghệ sĩ. Đảng không cho phép bất cứ cá nhân nào, nhân danh cấp ủy, để định đoạt số phận một tác phẩm văn học nghệ thuật. Để có sự đánh giá khách quan các tác phẩm, Đảng đòi hỏi thành lập các Hội đồng nghệ thuật làm tham mưu cho cấp ủy. Rõ ràng những tư tưởng đó của Đảng đã khẳng định lĩnh vực văn hóa, văn nghệ là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của xã hội, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo và quản lý thích hợp. Có một loạt các vấn đề có thể được đặt ra nhằm giải quyết vấn đề “tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa” mà Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng đã đề ra. Vấn đề đầu tiên cần khẳng định là: chính quần chúng nhân dân mới là lực lượng chủ yếu sáng tạo ra văn hóa. Đảng ta cũng thường xuyên khẳng định: xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân. Vậy làm gì để nhân dân trực tiếp tham gia vào việc sáng tạo ra các giá trị văn hóa trong thời đại hiện nay.


 

Có phải hàng ngàn năm xưa, trong khổ đau, trong áp bức, nhân dân ta vẫn liên tục sáng tạo ra các giá trị văn hóa lớn không? Các giá trị đó không những đã góp phần tạo nên sức mạnh cố kết bền vững của dân tộc, mà còn tạo nên những chất liệu cần thiết để hình thành những công trình văn hóa lưu danh muôn đời. Nhân dân Trung Quốc từ xa xưa vẫn tự hào về Vạn lý trường thành, một công trình văn hóa có một không hai trên thế giới. Nhưng để xây dựng bức vạn lý trường thành bằng đá đó, họ phải đánh đổi bằng xương máu của hàng chục triệu sinh linh. Việt Nam ta không có bức trường thành bằng đá, nhưng chúng ta có một “bức trường thành” nằm trong lòng dân - đó là chủ nghĩa yêu nước truyền thống từ thời Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh. Nhờ bức “vạn lý trường thành” đó, dân tộc chúng ta luôn chiến thắng mọi kẻ thù hung bạo từ xa tới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống đó được nhân dân thể hiện không chỉ trong cuộc sống thường ngày, trong sinh hoạt, lao động và chiến đấu, mà còn được kết tinh trong những tác phẩm văn học dân gian: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, dân ca, trong các lễ hội, trong phong tục tập quán. Đó là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá nuôi dưỡng tâm hồn khí phách của dân tộc. Văn hóa, văn học nghệ thuật của dân tộc cũng được hình thành từ đó. Nếu không có truyền thống nồng nàn yêu nước của dân tộc thì không thể có bài thơ thần “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” mà tương truyền là của Lý Thường Kiệt, không có bài “Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi - một thiên cổ hùng văn của dân tộc. “Truyện Kiều” bất hủ của đại thi hào Nguyễn Du cũng là kết tinh của chủ nghĩa nhân văn, lòng vị tha của dân tộc, và gần gũi hơn là các làn điệu dân ca ví dặm của quê hương Nghệ Tĩnh... Cố nhiên, sự đóng góp của các danh nhân văn hóa đó đối với sự phát triển của văn hóa dân tộc là vô cùng to lớn. Các tác phẩm của họ là những đỉnh cao trên nền tảng vững chắc của các giá trị văn hóa dân tộc.

Đến thời đại Hồ Chí Minh cũng vậy. Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Bác Hồ và Đảng ta ngay từ đầu đã tổ chức cuộc vận động tiêu diệt giặc dốt, tổ chức các lớp bình dân học vụ, bổ túc văn hóa và phát triển sự nghiệp giáo dục quốc dân, nhằm không ngừng nâng cao dân trí. Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất cuộc vận động xây dựng đời sống mới, nhằm loại bỏ những hủ tục, mê tín, xây dựng cuộc sống cần, kiệm, liêm, chính, đưa khoa học vào đời sống... Năm 1948, Bác Hồ khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, với khẩu hiệu “Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua”.

Thông qua các hoạt động đó, quần chúng nhân dân có dịp phát huy mọi năng lực tinh thần để hình thành những giá trị mới về văn hóa và con người. Từ đó đã dần dần xuất hiện những người tốt, việc tốt, mà sau này được Nhà nước tôn vinh là anh hùng, chiến sĩ thi đua trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Chính trong bối cảnh đó, các văn nghệ sĩ vốn rất gắn bó với đời sống nhân dân, đã có dịp tiếp nhận nguồn cảm hứng trước những nghĩa cử đẹp đẽ và mới mẻ của quần chúng, đã sáng tạo ra các tác phẩm có sức lay động lòng người. Nền văn học nghệ thuật thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước của nước ta đã “xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của các nền văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay” (đánh giá của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa IV năm 1976). Thi sĩ Tố Hữu, lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng nước ta, đã từng khái quát rất chính xác mối quan hệ mật thiết, sống còn, giữa nhân dân, Đảng và văn hóa văn nghệ: Nhân dân là bể/Văn nghệ là thuyền/Thuyền xô sóng dậy/Sóng đẩy thuyền lên/Thuyền ra khơi xa/Gió căng buồm lộng/Buồm là lao động/Gió là Đảng ta.

Vai trò lãnh đạo của Đảng ở đây là phải giúp cho mọi người, từ người dân bình thường, đến những người hoạt động trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật khẳng định được cái chân giá trị của văn hóa nghệ thuật truyền thống, phân biệt được cái gì còn có giá trị lâu dài, cái gì đã tỏ ra lạc hậu, lỗi thời, đồng thời bổ sung những nhân tố mới mang tính thời đại. Đảng không thể làm thay cho dân tộc trong việc sáng tạo các giá trị văn hóa.

Hãy luôn luôn ghi nhớ lời dạy của Lênin về phương diện này, khi Người phê phán nhóm “Văn hóa vô sản Nga” có ý định xóa bỏ mọi thành tựu văn hóa nghệ thuật thời trước cách mạng, coi tất cả những thành tựu đó là thành tựu của chế độ phong kiến, quân chủ. Họ tuyên bố văn hóa vô sản hiện nay cần được xây dựng chỉ với những bàn tay và khối óc của những người vô sản. Lênin coi đó là sự ngu ngốc. Văn hóa vô sản không phải tự trên trời rơi xuống.

Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu một tấm gương tuyệt vời về phương diện này. Năm 1947, Bác viết cuốn “Đời sống mới”, trong đó chủ yếu sử dụng các vật liệu, các giá trị đã có sẵn của dân tộc, bởi vì Người hiểu rõ văn hóa dân tộc ta là dòng chảy liên tục của lịch sử từ thời Hùng Vương dựng nước đến nay. Tư tưởng của Người là, không phải bỏ hết cái cũ, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ, cái gì cũ mà không xấu thì phải sửa lại cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm. Viết về xây dựng đời sống mới, nhưng Bác sử dụng các khái niệm cũ, các giá trị cũ: cần, kiệm, liêm, chính và nhấn mạnh Bác viết: “Nêu cao và thực hành cần, kiệm, liêm, chính, tức là nhen lửa cho đời sống mới”. Có người không hiểu, thưa với Bác xin thay mấy từ cần, kiệm, liêm, chính vì những từ đó quá cũ rồi. Nghe thế, Bác hỏi lại “Thế cơm ăn nước uống xưa nay ta vẫn dùng, sao không thấy cũ”. Nêu ra những bài học đó để thấy rằng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người hiện nay, công việc đầu tiên là phải biết làm chủ những giá trị văn hóa và con người mà cha ông ta đã tạo nên và đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phải chăng cũng với mục đích đó, năm 1942, lúc mới về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước ta, tại căn cứ Cao Bằng, Bác Hồ đã viết cuốn “Lịch sử nước ta”, với 4 câu thơ mở đầu thật có ý nghĩa: Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam/Kể năm hơn bốn ngàn năm/Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa... 

 

 Các giá trị văn hóa nghệ thuật từ xưa tới nay đều phải bắt nguồn từ đời sống quần chúng, hấp thu những tinh hoa do quần chúng sáng tạo ra và phải được quần chúng hiểu và yêu thích.

 

Kinh nghiệm chỉ ra rằng, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người nói chung và chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái đạo đức,v.v.. nói riêng, chúng ta có thể rút ra bao nhiêu bài học bổ ích mà cha ông đã truyền lại. Những tấm gương sáng về nhân cách, tâm hồn của các trí thức lớn, của các quan đại thần, của các vị vua anh minh như: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Tô Hiến Thành, Lê Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, v.v.. vẫn còn đó. Những kinh nghiệm tuyển chọn người tài ra giúp nước, những biện pháp ngăn ngừa và xử lý những vụ tham nhũng trong bộ máy quan lại ngày xưa... cũng để lại cho ta nhiều bài học quý.

Gần với chúng ta hơn, những thành tựu về văn hóa trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, do Bác Hồ và Đảng ta lãnh đạo, chắc còn để lại những ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn đa số người Việt Nam hôm nay. Không phải lúc đó không có những hiện tượng tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, v.v.. nhưng trước thái độ nghiêm khắc của Bác, của Đảng, và trước  khí thế cách mạng của quần chúng, các hiện tượng đó không có đất để tồn tại. Sự nghiêm minh của pháp luật và sức mạnh to lớn của dư luận xã hội là những gọng kìm bủa vây và tiêu diệt những tham vọng xấu xa của một số người có chức, có quyền. Đó là những bài học lớn mà cha ông đã để lại cho chúng ta. Câu hỏi được đặt ra: tại sao cách chúng ta hàng sáu, bảy trăm năm, một người quyền cao chức trọng như Thái sư Trần Thủ Độ lại có thể dễ dàng từ chối lời thỉnh cầu của vợ ban chức xã trưởng cho một người bà con thân thích. Tại sao quan Thái úy Tô Hiến Thành - người được nhà vua ủy quyền trông coi việc nước lại có thể từ chối sự mua chuộc bằng rất nhiều vàng bạc của thái hậu, kiên quyết không đề cử người con trai mà thái hậu yêu quý, lên ngôi, chỉ vì người đó tài hèn đức kém. Tại sao quan đại thần Chu Văn An sẵn sàng treo ấn từ quan để về dạy học, sau khi dâng sớ chém bảy tên nịnh thần mà không được vua chấp nhận...  

Hãy tạo ra một môi trường thật thuận lợi, thật rộng lớn, từ trong gia đình ra ngoài xã hội, từ các cơ quan của Đảng và Nhà nước, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, các xí nghiệp, trường học… để mỗi người, đặc biệt những người có trọng trách trong xã hội có dịp suy ngẫm kỹ về những bài học mà cha ông để lại. Điều đó chắc chắn sẽ giúp chúng ta có thêm bản lĩnh, dũng khí để hoàn thành tốt một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng hiện nay: chống quan liêu, tham nhũng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Đại hội XII của Đảng đã đề ra. 

GS.TS. Trần Văn Bính

_________________________________

Bài đăng TCTG số 5/2019

Lượt xem: 15

  • File đính kèm:

Bình luận

Video

xbiendao6.png.pagespeed.ic.PiV-wj50rF.jpg

Banner gửi tỉnh ủy.png

 logo.gif

prieng.png

QUANG CAO TUYEN GIAO.gif