Search

Liên kết website

Thống kê truy cập

Đang online: 40

Hôm nay: 204

Lượt truy cập: 3.825.447

nhandanBTG.jpg

dangcsBTG.jpg

desertsv_EHA71GDCBF65Z.JPG

xaydungdangBTG.jpg

tuyengiaoBTG.jpg

binhphuoc.gif

congbao.gif

BAOHIEM.gif

logo phu rieng.png

LOC NINH.jpg

CAO SU SONG BE.jpg

 

 

Những chặng đường chiến đấu, trưởng thành của lực lượng vũ trang Quân khu 7 (1945-1975) - Bài 2

 Lực lượng vũ trang (LLVT) cách mạng miền Đông Nam bộ ra đời từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Cùng với quá trình phát triển của sự nghiệp kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng và được Nhân dân che chở, nuôi dưỡng, LLVT 3 thứ quân ở miền Đông Nam bộ lần lượt hình thành và gắn liền với các phong trào cách mạng của Nhân dân, gắn liền với từng bước đi của lịch sử dân tộc.

1. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp đã nổ súng tấn công các trụ sở của chính quyền cách mạng non trẻ Việt Nam tại Sài Gòn, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Như vậy, chỉ 21 ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhân dân Nam Bộ chưa kịp hưởng niềm vui thanh bình, phải tiếp tục cầm súng đứng lên chiến đấu để giữ vững nền độc lập vừa giành được. Dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, quân và dân miền Đông Nam bộ, trước hết là quân và dân thành phố Sài Gòn đã anh dũng đứng lên kháng chiến. Trong hoàn cảnh khó khăn, bỡ ngỡ của buổi đầu đánh giặc, quân và dân Sài Gòn-Chợ lớn-Gia Định đã vây hãm quân địch trong thành phố, tạo điều kiện cho Nhân dân toàn miền củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng LLVT, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài. Sau gần 15 tháng chiến đấu, quân và dân miền Đông Nam bộ đã hoàn thành nhiệm vụ “đi trước” mà lịch sử giao phó, góp phần làm đảo lộn kế hoạch chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, tạo điều kiện về thời gian cho Nhân dân cả nước chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến một cách chủ động.

Từ năm 1947 đến năm 1950, địa bàn miền Đông Nam bộ là một trong những trọng điểm “Bình Định” của địch, một trong những hậu phương dự trữ chiến lược của chúng ở chiến trường Việt Nam. Quân dân miền Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ đã tập trung nỗ lực chống lại chính sách “Bình Định” của địch, chấn chỉnh và xây dựng LLVT 3 thứ quân, sáng tạo ra nhiều cách đánh độc đáo và có hiệu quả trong chống càn quét, trong phục kích giao thông, trong tiến công đồn bốt, cứ điểm, tháp canh và tổ chức chiến dịch lớn. Đây cũng là giai đoạn mà phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị phát triển mạnh mẽ chưa từng có. Cuộc kháng chiến được đẩy mạnh trên mọi mặt, góp phần đánh bại chính sách “Bình Định” của địch.

45-nam-ngay-giai-phong-mien-nam-menh-lenh-lich-su-cho-ngay-toan-thang-43-.6241.jpg

Quân Giải phóng chiếm trường Thiết giáp của ngụy tại căn cứ Nước Trong (Biên Hòa).Từ đầu tháng 4/1975, các binh đoàn chủ lực của ta từ khắp các hướng tiến về Sài Gòn, tấn công địch với sức mạnh vũ bão và tiêu diệt toàn bộ tuyến phòng thủ từ vòng ngoài của.

 Giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong điều kiện bị địch chia cắt, phong tỏa và càn quét liên miên (Nam bộ có ý nghĩa quan trọng đối với Pháp vì ở đây chứa đựng những quyền lợi trước mắt và lâu dài của Mỹ mà Pháp phải bảo vệ để đổi lấy viện trợ quân sự), quân và dân miền Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ giữ vững phong trào, khắc phục những lệch lạc hữu khuynh trong thực hiện phương châm ba vùng, đấu tranh giành giật sức người, sức của với địch.

Đẩy mạnh phong trào đấu tranh du kích, kết hợp với phong trào đấu tranh đô thị và “địch ngụy vận” (Trung ương Cục miền Nam đã chủ động đề ra chủ trương “chuẩn bị đón thời cơ mới” bằng cách đẩy mạnh tấn công quân sự, chính trị kết hợp với “địch ngụy vận” để phối hợp với chiến trường chính Bắc bộ), cầm chân địch tại chỗ, không ngừng mở rộng căn cứ địa và xây dựng cuộc sống mới mọi mặt ở vùng giải phóng, quân dân miền Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ đã từng bước giành lại thế chủ động, tạo thế, tạo lực, tích cực góp phần cùng quân và dân cả nước tiến công địch trong Đông-Xuân 1953-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

2. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)

Từ sau Hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mỹ từng bước nắm chính quyền thống trị miền Nam Việt Nam, gạt Pháp và mọi thế lực thân Pháp, xây dựng bọn tay sai ngụy quyền, ngụy quân, thực hiện chính sách thực dân mới, tiến hành đánh phá quyết liệt cách mạng Miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân miền Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ đã vững bước vào cuộc chiến đấu trong mối tương quan lực lượng không cân sức, dần dần xây dựng lực lượng, cùng với đồng bào cả nước thực hiện cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ của dân tộc.

Ngay những ngày đầu bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong thế trận rất chênh lệch, nhưng Nhân dân miền Đông và cực Nam Trung bộ vẫn vững tin vào đường lối chủ trương của Đảng, kiên trì cuộc đấu tranh chính trị đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống “tố cộng diệt cộng”, chống càn quét, khủng bố, cướp đất, dồn dân. Vừa đấu tranh chính trị, vừa có ý thức chuẩn bị tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang. Sau khi Ban Quân sự và Đảng ủy Miền được thành lập (tháng 12/1956), do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến, ủy viên quân sự Xứ ủy phụ trách, công tác tích trữ vũ khí, xây dựng lại 2 căn cứ lớn: Dương Minh Châu, Chiến khu D và tranh thủ lực lượng của các giáo phái càng được đẩy mạnh, từng bước đưa đấu tranh vũ trang từ tự vệ lên Tuyên truyền diệt ác, tác chiến, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ. Tháng 06/1958, Bộ Tư lệnh miền Đông được thành lập; 15/02/1961 Quân giải phóng miền Nam công bố thành lập từ sự thống nhất các đơn vị lực lượng vũ trang cánh mạng. Từ đó phong trào đấu tranh và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang cách mạng càng phát triển mạnh mẽ.

Từ 1957 đến đầu năm 1961, các đơn vị đầu tiên của lực lượng vũ trang miền Đông đã thực hiện một số trận đánh, đặc biệt trận đánh quận lỵ Dầu Tiếng (ngày 11/08/1958), sau 30 phút ta tiêu diệt và làm chủ toàn bộ căn cứ 1 tiểu đoàn lính “cộng hòa”, gây tiếng vang lớn trong toàn miền Đông và cả nước. Lần đầu tiên từ sau 1954, lực lượng vũ trang miền Đông chiếm được một chi khu quân sự địch. Trận đánh vào Trụ sở phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ (MAAG) đóng tại nhà máy cưa Nhà Xanh (BIF) thị xã Biên Hòa do đặc công biệt động Biên Hoà thực hiện (ngày 09/07/1959), là trận đánh Mỹ đầu tiên trên chiến trường Nam Bộ, diệt 2 tên cố vấn Mỹ[1], ghi tên đầu tiên trong danh sách lính Mỹ tử trận ở Việt Nam, gây tiếng vang lớn ở chiến trường. Ngày 26/01/1960, lực lượng vũ trang miền Đông đánh trận Tua 2 (Tây Ninh) làm chủ căn cứ một trung đoàn chủ lực ngụy, diệt và làm bị thương, bắt sống nhiều tên, thu nhiều vũ khí trang bị, mở đầu cho phong trào Đồng khởi ở miền Đông. Trong cuộc Đồng khởi 1960, quân dân miền Đông và cực Nam Trung bộ đã đánh sụp ngụy quyền cơ sở, giành quyền làm chủ phần lớn nông thôn (Thủ Dầu Một giải phóng 25/70 xã, Long An giải phóng 2/3 nông thôn, Kiến Tường phá tan gần hết khu trù mật dinh điền, Tây Ninh giải phóng 1/3 nông thôn, vùng ven Sài Gòn kiểm soát hơn 1/2 địa bàn phía Bắc, làm chủ vùng nông thôn Tây, Tây Nam thành phố...).

Từ 1961 đến giữa 1965, khi Mỹ-ngụy thay đổi chiến lược từ “Chiến tranh đơn phương” sang tiến hành “Chiến tranh đặc biệt”, quân dân miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung bộ vẫn giữ vững và phát triển quyền chủ động tiến công địch, nhanh chóng chuyển hướng chiến lược từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng, ra sức xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang ba thứ quân (du kích xã, bộ đội khu và bộ đội chủ lực Miền). Từ năm 1961 đến năm 1965, trên chiến trường miền Đông đã có những đơn vị chủ lực cấp tiểu đoàn, trung đoàn. Trên cơ sở lực lượng phát triển, quân và dân miền Đông và cực Nam Trung bộ đã vận dụng linh hoạt phương châm hai chân, ba mũi, ba vùng[2]. Kết hợp tiến công với nổi dậy, tiêu diệt với làm chủ, sáng tạo nhiều hình thức phong phú của chiến tranh Nhân dân, đưa chiến tranh Nhân dân phát triển lên trình độ cao, tập trung phá “Ấp chiến lược”, từng bước làm phá sản “Quốc sách ấp chiến lược”, liên tiếp đánh bại các kế hoạch bình định của địch, giải phóng từng mảng nông thôn rộng lớn ở miền núi và đồng bằng; đồng thời kết hợp đẩy mạnh phong trào đô thị dẫn đến sự sụp đổ của chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm và sự khủng hoảng của chế độ tay sai của Mỹ.

Giai đoạn “Chiến tranh đặc biệt”, LLVT miền Đông và cực Nam Trung bộ đã đánh nhiều trận tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, tiêu biểu nhất là chiến dịch Bình Giã (từ ngày 02/12/1964 đến 07/01/1965), lần đầu tiên trên chiến trường B2 ta mở chiến dịch lớn cấp Sư đoàn.

Bình Giã là trận đánh lớn thứ hai sau Ấp Bắc, ta đánh bại chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của Mỹ. Diệt và làm bị thương 1.755 tên. Lần đầu tiên ta diệt một tiểu đoàn dù thuộc lực lượng Tổng trù bị của quân ngụy. Chiến dịch Bình Giã là trận đánh mạnh nhất làm sụp đổ “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Đánh giá về tầm quan trọng của chiến dịch này, đồng chí Lê Duẩn viết: “Với trận Ấp Bắc 1963 địch thấy khó thắng ta, sau chiến dịch Bình Giã, địch thấy có thể thua ta”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì khẳng định: “Chiến dịch Bình Giã đánh dấu sự thất bại về cơ bản của chiến tranh đặc biệt”.

Giữa năm 1965, Đế quốc Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược, tiến hành cuộc “Chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt Nam. Miền Đông là chiến trường địch tập trung lực lượng cả Mỹ lẫn ngụy cùng khối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh lớn nhất.

Chiến trường miền Đông lúc này đã có 3 Sư đoàn chủ lực Miền (Sư 9, Sư 5, Sư 7). Bộ đội chủ lực Khu 7 phát triển lên 2 trung đoàn, Quân khu Sài Gòn-Gia Định có 8 tiểu đoàn chủ lực, địa phương và đặc khu Rừng Sác được thành lập ngay sát nách Sài Gòn. Với lực lượng đã phát triển mạnh lại được sự chi viện của cả nước, quân dân miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung bộ đã chủ động xác định quyết tâm đánh Mỹ, diệt ngụy, vận dụng phương thức, phương châm tiến hành chiến tranh một cách linh hoạt, có hiệu quả, phát huy khả năng địa phương trong việc đảm bảo hậu cần tại chỗ, đặt cơ sở cho việc xây dựng và phát triển mạng lưới hậu cần Nhân dân trong chiến tranh, góp phần lần lượt đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất và lần thứ hai của địch, thực hành các cuộc tổng tiến công và nổi dậy trong năm 1968, đánh vào các sào huyệt của địch ở Sài Gòn, giành thắng lợi lớn, góp phần buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chịu đàm phán với ta ở Pari.

Đến 1972, LLVT miền Đông thực hiện Chiến dịch Nguyễn Huệ. Hướng chính của chiến dịch là Bình Long, hướng nghi binh: Quốc lộ 22 Xamát. Hướng phối hợp: các địa phương khác trên toàn miền Đông. Ta huy động một lực lượng lớn gồm 3 sư đoàn, 4 trung đoàn, 6 tiểu đoàn bộ binh và 8 tiểu đoàn binh chủng phối hợp với quân dân các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 7.985 tên địch, diệt 5 Tiểu đoàn ngụy, 16 Tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn thiết giáp, đánh quỵ Sư đoàn 5 ngụy, giải phóng toàn bộ huyện Lộc Ninh và tuyến biên giới Đông Sài Gòn từ Lò Gò, huyện Tân Biên (Tây Ninh) đến Lộc Ninh, Bù Đăng (Bình Phước). Đây cũng là lần đầu tiên ta giải phóng hoàn toàn một huyện ở chiến trường B2 lúc đó.

Sau ngày ký Hiệp định Paris (27/01/1973), quân dân miền Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ đã nhanh chóng khắc phục những lúng túng ban đầu (để cho địch lấn đất, chiếm dân), kịp thời chuyển sang thế tấn công giành chủ động, thực hiện nhiều trận đánh đạt hiệu suất cao như trận Bến Tranh ở Dầu Tiếng, trận đánh kho xăng Nhà Bè (ngày 03/12/1973)… Ngày 20/7/1974 trên chiến trường miền Đông thành lập Quân đoàn 4 chủ lực Miền và thành lập thêm 2 Sư đoàn 3 và 6. Nhằm tạo thêm thế và lực mới, từ ngày 12/12/1974 đến 06/01/1975, ta quyết định mở chiến dịch đường 14 Phước Long, đồng thời các địa bàn khác như Tánh Linh, Võ Đắc[3], Tây Ninh, Bắc Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Sài Gòn cùng tiến công. Kết quả: sau 20 ngày chiến đấu, ta giải phóng đường 14, toàn tỉnh Phước Long, chiếm Đài quan sát của địch trên đỉnh núi Bà Đen, giải phóng trên 35.000 dân ở Hoài Đức, Tánh Linh và toàn Quận Tánh Linh. Lần đầu tiên ở miền Nam, ta giải phóng một Tỉnh mà địch không lấy lại được, Mỹ không dám can thiệp trở lại. Việc giải phóng Phước Long đã trở thành “Đòn trinh sát chiến lược”,tạo thêm cơ sở để Bộ Chính trị bàn về quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trong năm 1976 hoặc 1975.

Từ chiến thắng Buôn Ma Thuột -Tây Nguyên và các chiến thắng ở miền Đông Nam Bộ, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975. Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 15  đã ra Quyết nghị (ngày 29/3/1975) về tổng công kích, tổng khởi nghĩa thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị. Theo đó, Ngày 07/4/1975, tại căn cứ Tà Thiết (Tây Lộc Ninh), Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh được thành lập.

Lực lượng tại chỗ được thống nhất lại (gồm Sư đoàn 2 đặc công Miền, Lữ 316 đặc công biệt động, các lực lượng của Sài Gòn – Gia Định). Riêng đặc công biệt động có 30 tiểu đoàn. Nhiệm vụ của các lực lượng tại chỗ là đánh chiếm các mục tiêu then chốt có thể chiếm được, phát động Nhân dân nổi dậy làm chủ, tạo mọi điều kiện tại chỗ để các quân đoàn tiến vào giải phóng Sài Gòn. Nhiệm vụ đặc biệt là chiếm giữ 14 cây cầu trên các ngã đường tiến về Sài Gòn (chủ yếu do Lữ 316 đặc công biệt động và Trung đoàn đặc công 116 thực hiện).

Thực lực chính trị vũ trang Sài Gòn – Gia Định trước Chiến dịch Hồ Chí Minh có: Nội thành 700 cán bộ, ngoại thành có trên 1.000 cán bộ, ngoài ra có 1.300 cán bộ đã tiếp cận nội đô sẵn sàng vào nội đô để phát động quần chúng nổi dậy. Nội thành và vùng ven có 1.290 đảng viên, có hơn 10.000 quần chúng nòng cốt, 40 lõm chính trị[4] với hơn 7.000 quần chúng cơ sở, 400 tổ chức công khai và bí mật với gần 25.000 người do ta nắm. Biệt động: 70 tổ, 301 quần chúng có vũ trang, 30.000 quần chúng sẵn sàng nổi dậy, trên 3.300 du kích, và trên 300 tự vệ mật. Các đơn vị tập trung của LLVT tại chỗ và các đơn vị đặc công biệt động đã đến vùng ven.

Ngay sau khi có lệnh trong hai ngày 29 và 30/4/1975 quân dân miền Đông Nam Bộ đã cùng các binh đoàn chủ lực thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy thành công, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trong 5 cánh quân tiến vào Sài Gòn, có 2 cánh quân thuộc các lực lượng chiến đấu trên chiến trường Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ đó là Quân đoàn 4 ở hướng Đông và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn) ở hướng Tây Nam.

Về nổi dậy: Quần chúng Sài Gòn, Gia Định đã nổi dậy ở 107 điểm (31 điểm ở ngoại thành, 76 điểm ở nội thành), 41 điểm nổi dậy sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng nhưng quân chủ lực ta chưa vào tới.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, riêng quân dân Sài Gòn - Gia Định đã diệt và làm tan rã 31.000 tên địch, bắt làm tù binh 12.619, chiếm 9 cầu, 21 chi khu quân sự và trụ sở tề, thu 12.275 súng và gần như toàn bộ hồ sơ của địch. Số ngụy quân lần lượt ra trình diện 400.000, số công an và cảnh sát 100.000. Việc này đã tạo thuận lợi cho ta giải phóng Sài Gòn nguyên vẹn và mọi sinh hoạt, trật tự an ninh thành phố đã ổn định ngay sau đó.

 



[1] Thiếu tá Bael Buis và Trung sĩ Chester Ovmand

[2] Hai chân: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; ba vùng: vùng thành thị, nông thôn và miền núi; ba mũi: Chính trị, quân sự và binh vận.

[3] Võ Đắc: xã Võ Đắc thuộc huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận

[4] Lõm chính trị là khu vực xung yếu, tạo được sự liên kết trong và ngoài thành, ở đó ta làm chủ, có cán bộ đảng viên, cơ sở và quần chúng cách mạng, có lực lượng an ninh làm nòng cốt, quần chúng cảm tình cách mạng và kháng chiến, dám che giấu, đùm bọc cán bộ, chiến sĩ cách mạng, địch bất lực hoặc hai mặt trong việc kiểm soát.

Lượt xem: 610

  • File đính kèm:

Bình luận

xbiendao6.png.pagespeed.ic.PiV-wj50rF.jpg

Banner gửi tỉnh ủy.png

 logo.gif

prieng.png

QUANG CAO TUYEN GIAO.gif