Search

Phong trào đấu tranh cách mạng của Nhân dân Bù Gia Mập (1968- 1975)

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Bù Gia Mập trở thành mạch nối giữa tuyến hành lang vận chuyển 559 với các kho, trạm hậu cần của ta. Sau Tết Mậu Thân 1968, Mỹ - ngụy thi hành nhiều thủ đoạn chiến tranh mới. Chúng tăng cường phản kích, thực hiện kế hoạch bình định cấp tốc. Cả vùng Bù Gia Mập trở thành mục tiêu của những đợt đánh phá ác liệt của bom pháo Mỹ và các cuộc hành quân càn quét của chúng. Do bom đạn ác liệt, Đảng bộ Bù Gia Mập chủ trương đưa số đồng bào trong vùng căn cứ lánh sang bên kia biên giới để tránh tổn thất. Huyện xây dựng các đội, các mũi công tác đưa vào vùng tranh chấp để hoạt động. Du kích các xã ấp đã kết hợp với bộ đội trong việc mở rộng vùng giải phóng. Vùng căn cứ được củng cố, hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang được đẩy mạnh. Du kích của nhiều xã trong huyện lập được thành tích vang dội. Nổi bật là du kích xã Phú Văn, từ ngày 14 đến ngày 24-11-1968 đã tổ chức đánh 40 trận, bẻ gãy nhiều đợt càn quét, diệt và làm bị thương gần 180 tên (chủ yếu là Mỹ), bắn rơi và bắn hỏng 14 máy bay lên thẳng. Với thành tích xuất sắc đó, ngày 28- 12-1968, Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ quyết định tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất cho lực lượng du kích xã Phú Văn.

Tháng 12-1969, du kích xã 1 và xã 2 đã dùng súng bộ binh phục kích bắn rơi 6 máy bay lên thẳng, diệt 42 tên Mỹ. Đặc biệt là trận chống càn trên đồi 842 - một trận đánh đầy thử thách ác liệt - được sự yểm trợ của pháo binh, không quân, một đại đội lính ngụy đã lùng sục trên đồi 842. Lợi dụng địa hình địa vật, một trung đội của lực lượng vũ trang Bù Gia Mập đã luồn lách, kiên cường chống trả buộc địch phải rút lui. Năm 1970, một trung đội du kích của Bù Gia Mập đã dũng cảm, mưu trí bẻ gãy một trận càn lớn của địch, diệt gần 100 tên Mỹ.

Trong năm 1970, tuy lượng bom đạn mà địch dội xuống khu căn cứ có giảm, nhưng chúng vẫn bám giữ địa bàn chiến lược này. Đồng bào trong các vùng bị địch gom dân tìm cách bung ra, về với vườn rẫy. Đồng bào ở khu căn cứ cùng với bộ đội, du kích tích cực tăng gia trồng trọt. Xuân - Hè năm 1970, hoạt động của ta trên địa bàn Bù Gia Mập được đẩy mạnh. Lực lượng vũ trang địa phương kết hợp với các mũi, các đội công tác bám sát dân, xây dựng cơ sở vũ trang mật, nhất là ở những xã vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số. Cuối năm 1970, địch bị thất bại ở chiến trường Campuchia đã kéo về đóng quân rải rác sát biên giới. Du kích các xã đã phối hợp với bộ đội tổ chức đánh phục kích, tập kích các cụm đóng quân, liên tục gây cho chúng nhiều thiệt hại về quân số, hoang mang về tinh thần.

Những năm 1970 - 1971, các xã vùng căn cứ Bù Gia Mập gặp nhiều khó khăn về lương thực. Trước tình hình đó, Đảng bộ huyện động viên mọi người tìm cách tháo gỡ khó khăn. Cán bộ, du kích và nhân dân chịu đựng gian khổ cùng “thắt lưng buộc bụng” và đẩy mạnh tăng gia sản xuất để dự trữ lương thực chuẩn bị cho các chiến dịch. Đồng bào các xã trong huyện hết lòng ủng hộ lương thực cho kháng chiến. Đến cuối năm 1971, các địa phương trong vùng căn cứ của huyện Bù Gia Mập đã đóng góp cho cách mạng hàng chục tấn lương thực, tham gia vận chuyển lương thực, thực phẩm thu mua được từ các vùng ngoài phục vụ cho chiến trường Phước Long, đồng thời trở thành một trong những bàn đạp của các lực lượng chính trị và vũ trang địa phương, tích cực chuẩn bị cho Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, mà Bù Gia Mập là một chiến trường phối hợp.

Sau khi giải phóng hoàn toàn Lộc Ninh ngày 7-4-1972, ta tiếp tục tấn công địch ở nhiều nơi tỉnh Bình Long và Phước Long. Các K đổi thành huyện, K28 - Bù Gia Mập đổi thành huyện Bù Gia Mập.

Trong những tháng đầu năm 1973, phong trào quần chúng ở Bù Gia Mập cũng như tại vùng căn cứ giải phóng phát triển sôi nổi hơn bao giờ hết. Thực lực cách mạng từ đó cũng được tăng cường. Chủ trương của Tỉnh ủy đối với vùng căn cứ giải phóng là: “... khẩn trương xây dựng vùng căn cứ giải phóng về các mặt chính trị, kinh tế, quốc phòng và văn hóa, xã hội; khẩn trương xây dựng, phát triển thực lực tại chỗ làm thay đổi tương quan có lợi cho ta, từng bước đánh bại âm mưu phá hoại hiệp định, giữ vững hòa bình, sẵn sàng đánh bại địch nếu chúng liều lĩnh gây chiến trở lại”.

Sau Hiệp định Pari (tháng 1-1973), nhiều lần địch bắn pháo, xua quân lấn chiếm vùng giải phóng, nhưng lần nào chúng cũng bị thất bại. Trong một thời gian ngắn, du kích Bù Gia Mập đã phối hợp với Đại đội 568 bộ đội tỉnh đánh 5 trận, diệt 38 tên, bảo vệ vững chắc vùng căn cứ. Đồng thời, huyện xây dựng 3 chi bộ Đảng, 10 chi đoàn thanh niên, 311 chiến sĩ du kích. Bộ đội huyện có: 1 đại đội và 2 tiểu đội. Lực lượng vũ trang huyện và du kích các xã, ấp luôn là chỗ dựa của nhân dân, trực tiếp chiến đấu chống lại kẻ thù. Trong Chiến dịch mùa Xuân 1975, lực lượng vũ trang Bù Gia Mập đã nhanh chóng chớp thời cơ, phát động quần chúng nổi dậy cướp chính quyền, bắt và làm tan rã 1.500 tên địch, thu 500 súng. Ngày 13-2-1975, toàn huyện Bù Gia Mập được giải phóng. Sau ngày 30-4-1975, Đảng bộ và đồng bào các dân tộc huyện Bù Gia Mập cùng với quân dân toàn tỉnh, mở rộng và củng cố vùng giải phóng. Để tăng cường chỉ đạo cách toàn Miền và cả nước, bước vào thời kỳ hòa bình, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

                                                                                                                                                                                                          M.An

 

Lượt xem: 106

  • File đính kèm:

Bình luận

Video

xbiendao6.png.pagespeed.ic.PiV-wj50rF.jpg

Banner gửi tỉnh ủy.png

 logo.gif

prieng.png

QUANG CAO TUYEN GIAO.gif