Search

Liên kết website

Thống kê truy cập

Đang online: 247

Hôm nay: 1.007

Lượt truy cập: 3.752.909

nhandanBTG.jpg

dangcsBTG.jpg

desertsv_EHA71GDCBF65Z.JPG

xaydungdangBTG.jpg

tuyengiaoBTG.jpg

binhphuoc.gif

congbao.gif

BAOHIEM.gif

logo phu rieng.png

LOC NINH.jpg

CAO SU SONG BE.jpg

 

 

Bình Phước đấu tranh giành chính quyền trong thời kỳ (1939-1945)

Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ở châu Âu, nước Pháp bị cuốn vào vòng chiến. Ở Đông Dương, thực dân Pháp ban bố lệnh tổng động viên, tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ cho cuộc chiến ở chính quốc; đồng thời “phát xít hóa” bộ máy cai trị, truy lùng, khủng bố các chiến sĩ cộng sản, giải tán các tổ chức ái hữu, nghiệp đoàn…

Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương lần thứ VI (tại Bà Điểm, Gia Định, đầu tháng 11-1939) và Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (tại Đình Bảng, Bắc Ninh, tháng 11-1940) của Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, chuẩn bị những điều kiện để tiến tới tổng khởi nghĩa, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc.

Tháng 9-1940, phát xít Nhật chính thức nhảy vào Đông Dương, thực dân Pháp buộc phải nhượng bộ. Tại Nam Kỳ nói chung, các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa nói riêng, bên cạnh bộ máy chính quyền thực dân còn có thêm lực lượng quân Nhật, trải đóng tại hầu khắp thị xã, các thị trấn và đồn điền cao su… Dưới hai tầng áp bức bóc lột Nhật - Pháp, đời sống nhân dân bị đẩy đến tình cảnh “một cổ hai tròng”, càng thêm điêu đứng, cùng cực.

Ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra ở hầu khắp các tỉnh miền Nam với ý chí đấu tranh mạnh mẽ, phá tan hệ thống chính quyền địch ở nhiều nơi, lập chính quyền cách mạng. Tại Thủ Dầu Một, Biên Hòa, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Ban cán sự Đảng, nhân dân một số nơi trong tỉnh đã nhất tề đứng lên, cùng nhân dân toàn Miền hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại vì kế hoạch bị lộ nhưng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học về phương thức bạo lực cách mạng và thời cơ cách mạng.

Sau khởi nghĩa Nam Kỳ, phong trào cách mạng ở các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa được gây dựng lại bởi các hoạt động của những đảng viên kiên trung của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại Nhà tù Bà Rá, nơi giam giữ gần 400 quần chúng yêu nước và những người cộng sản, phần lớn bị bắt vì tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ đã bí mật liên lạc, thông báo tin tức cho nhau, kiên trì làm công tác binh vận, liên lạc với người nhà để nhận sách báo và tin tức tình hình. Ngoài ra còn có một số cán bộ, đảng viên ở các nơi khác, tìm về các đồn điền cao su ở quận Bà Rá tìm cách hoạt động, móc nối, gây dựng cơ sở.

Hoạt động tích cực của các đảng viên tại các đồn điền cao su đã có tác động mạnh đến các cuộc đấu tranh của công nhân. Tại đồn điền Lộc Ninh, cuối năm 1942, hàng trăm công nhân các làng 4, 9, 10 đã tiến hành bãi công đòi chủ sở trả lương đúng hạn, giảm giờ làm việc còn 8 giờ/ngày... Thực dân Pháp và chủ sở không đáp ứng yêu cầu của công nhân, nổ súng đàn áp làm gần 10 người chết và bị thương, bắt đi một số công nhân. Lúc này tại Lộc Ninh, đồng chí Lê Đức Anh đang hoạt động hợp pháp, lập ra nhóm “công nhân nòng cốt” để củng cố và phát triển các cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền.

Cuối năm 1942, các nhóm đảng viên hoạt động trên địa bàn các sở cao su Dầu Tiếng, Quản Lợi, Thuận Lợi, Lộc Ninh… đã có vài lần hội họp cùng các đảng viên hoạt động ở vùng Lái Thiêu và thị xã Thủ Dầu Một để chuẩn bị tái lập Tỉnh ủy Thủ Dầu Một. Tháng 4-1943, Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một được thành lập do đồng chí Văn Công Khai làm Bí thư. Tại cuộc họp thành lập, Tỉnh ủy đã đề ra một số công tác cụ thể nhằm phục hồi các tổ chức, chi bộ Đảng, phát triển các tổ chức Hội Quần chúng, Hội Cứu quốc, liên hệ với Xứ ủy, Thành ủy Sài Gòn, Tỉnh ủy Gia Định để nắm tình hình chung và tiếp nhận tài liệu của Trung ương…

Sau ngày thành lập, Tỉnh ủy tổ chức địa bàn hoạt động thành hai khu vực chính: khu vực 1 gồm các vùng công nhân cao su, vùng đồng bào dân tộc ở quận Hớn Quản và vùng rừng núi phía bắc; khu vực 2 là vùng đồng bào nông dân, thợ thủ công, trí thức, công chức ở các quận phía nam tỉnh.

Ở khu vực 1, cuối năm 1943, Đảng bộ Thủ Dầu Một chỉ có một số đảng viên còn hoạt động ở các đồn điền cao su Dầu Tiếng, Quản Lợi, Lộc Ninh. Đến tháng 2-1944 Chi bộ Lộc Ninh được thành lập gồm ba đảng viên do đồng chí Lê Đức Anh làm Bí thư. Qua các hoạt động tích cực của chi bộ, một “nhóm trung kiên” cũng được tổ chức gồm nhiều quần chúng tích cực như các ông Mé, Kỳ Thinh, Kiêm, Ba Đèn, Cai Loại, Hai Đinh…, làm nòng cốt trong các phong trào của Mặt trận Việt Minh. Tại nhiều địa phương khác, các tổ chức quần chúng nửa công khai, nửa hợp pháp trong công nhân, thợ thủ công, các tầng lớp công chức, tiểu chủ được tái lập; các lực lượng vũ trang cách mạng bước đầu được nhen nhóm, hình thành.

Với sự phục hồi của các tổ chức cơ sở đảng ở nhiều địa bàn trọng yếu, ngọn lửa cách mạng lại bùng lên trong toàn tỉnh, trước hết là các phong trào công nhân ở các đồn điền cao su và vùng đồng bào dân tộc.

Ở đồn điền cao su Lộc Ninh, đầu năm 1944 diễn ra cuộc bãi công của hơn 300 công nhân đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống cúp phạt… Để hỗ trợ cuộc đấu tranh, anh em công nhân đã lập ra một đội tự vệ được trang bị dao găm, gậy gộc… để bảo vệ cuộc bãi công khi bị đàn áp. Chủ sở bố trí hàng chục tên lính gác trước cổng để uy hiếp tinh thần công nhân. Khi người đại diện công nhân vừa bước ra khỏi đoàn người biểu tình để đưa yêu sách thì bị bọn lính xông vào đánh tới tấp. Xô xát xảy ra giữa công nhân với lính gác. Chúng nổ súng bắn vào công nhân, làm hai người chết, nhiều người bị thương. Lập tức anh em trong đội tự vệ tiến vào đánh nhau với bọn lính, mấy tên lính bị đâm chết, một số bị thương, số còn lại bỏ chạy. Cuộc đấu tranh của công nhân tiếp tục bùng lên dữ dội trước hành động đàn áp của giới chủ. Họ phân công đưa các công nhân hy sinh và bị thương về làng, số còn lại tràn tới bao vây nhà chủ cánh Đờ Lalăng, đập phá cổng, xông vào nhà. Cuối cùng tên chủ cánh buộc phải nhượng bộ: chịu tiếp đại diện công nhân, hứa sẽ giải quyết các yêu sách và chuyển số lính ác ôn đi nơi khác.

Ở trại giam Bà Rá, mặc dù trong hoàn cảnh tù đày, các chiến sĩ cách mạng, đảng viên kiên trung vẫn nhiều lần đấu tranh đòi cải thiện đời sống, yêu cầu có thuốc trị bệnh… Chi bộ Đảng ở đây cũng tích cực chuẩn bị gạo, muối… sẵn sàng cho cuộc vượt ngục khi có thời cơ.

Giữa năm 1944, thực hiện chủ trương của Xứ ủy đẩy mạnh việc thành lập Mặt trận Việt Minh ở các địa phương, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một - do Bí thư Văn Công Khai - trực tiếp chỉ đạo thực hiện việc thành lập Mặt trận Việt Minh của tỉnh và các địa phương theo phương châm: nơi nào đã phục hồi cơ sở Đảng thì tổ chức các hội cứu quốc (Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc…), từ đó phát triển ra các nơi khác. Đến đầu năm 1945, các hội cứu quốc lần lượt ra đời ở nhiều nơi trong tỉnh Thủ Dầu Một, trong đó có các sở cao su Quản Lợi, Lộc Ninh… (thuộc quận Hớn Quản). Sau khi ra đời, hội viên các hội cứu quốc tích cực vận động đồng bào tham gia Hội để đoàn kết đấu tranh chống thực dân Pháp, phát xít Nhật, chuẩn bị giành chính quyền khi thời cơ đến.

Trước sự phát triển của các hội cứu quốc, thực dân Pháp và phát xít Nhật một mặt tung ra những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, mặt khác tăng cường tiến hành các cuộc đàn áp, khủng bố phong trào yêu nước.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Ở Thủ Dầu Một, 200 quân Pháp đóng tại thành Săng Đá cũng chỉ chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng chịu khuất phục trước quân Nhật. Đến cuối tháng 3-1945, phát xít Nhật bắt đầu xây dựng bộ máy cai trị mới, đồng thời tìm mọi cách trấn áp các hoạt động yêu nước. Song song với việc xây dựng, củng cố bộ máy cai trị và lực lượng quân sự, phát xít Nhật còn tìm mọi cách vơ vét, bóc lột sức người, sức của để nuôi dưỡng chiến tranh. Chúng dựng nên hàng trăm kho tàng ở các đồn điền cao su để tích trữ lương thực, thực phẩm, dược liệu, nguyên vật liệu… mà chúng đã thu mua theo kiểu ăn cướp ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa và nhiều tỉnh thành Nam Kỳ. Ngoài ra, chúng còn định thêm nhiều loại thuế và một chế độ lao dịch hà khắc… Đời sống của các tầng lớp nhân dân ta nói chung, nhân dân ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa nói riêng, vốn đã khổ cực lại càng thêm điêu đứng…

Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Chỉ thị nêu: lúc này “đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính - kẻ thù cụ thể trước mắt - duy nhất của nhân dân Đông Dương”. Một cao trào kháng Nhật cứu nước được phát động, nhanh chóng lan rộng khắp toàn quốc. Tại các địa phương - trong đó có Thủ Dầu Một, Biên Hòa - nhiều cán bộ, đảng viên bị giặc bắt đã thoát khỏi nhà tù trở về địa phương hoạt động, chuẩn bị ráo riết cho Tổng khởi nghĩa.

Trại giam Bà Rá, nhân cơ hội quân Pháp hoang mang trước cuộc đảo chính của quân Nhật, khoảng 200 tù chính trị đã tổ chức một cuộc vượt ngục vào sáng ngày 10-3-1945. Cũng trong tháng 3-1945, tại Thủ Dầu Một, một phong trào phá kho lấy gạo, vải, thực phẩm chia cho dân nghèo đã nổ ra ở nhiều nơi rồi nhanh chóng lan ra khắp tỉnh. Các tầng lớp nhân dân, nhất là quần chúng lao động càng thêm hăng hái tham gia vào các hội cứu quốc, đội tự vệ…, tạo tiền đề thuận lợi để tiến hành khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi.

Thực hiện kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền của Tỉnh ủy và Ủy ban khởi nghĩa tỉnh, ngày 24-8-1945 nhân dân Thủ Dầu Một, Biên Hòa nhất tề nổi dậy.

Tại Lộc Ninh, ngày 24-8-1945, đội tự vệ do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy cùng với hàng ngàn công nhân cao su và quần chúng tiến vào thị trấn cướp chính quyền. Quân Nhật nổ súng chống cự nhưng chỉ sau 15 phút chiến đấu, đội tự vệ đã tiêu diệt 18 tên Nhật, thu 40 súng, buộc chúng phải xin hàng. Lộc Ninh là một trong những địa phương giành được chính quyền sớm nhất trong tỉnh Thủ Dầu Một. Tại các địa phương khác trong quận Hớn Quản, Bà Rá (như thị trấn Chơn Thành, Đồng Xoài), tuy các phong trào cứu quốc mới hình thành, mối liên lạc với Ủy ban khởi nghĩa Thủ Dầu Một, Biên Hòa gặp nhiều khó khăn, nhưng các lực lượng cách mạng cũng nhanh chóng làm chủ tình hình. Cùng ngày, tại Bù Đốp, nhân dân bao vây đánh địch thu được một kho súng… Tại hầu khắp các địa phương ở phía bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa, quân đội Nhật ở các đồn bót đều tê liệt, một số sĩ quan hung hăng cho lính ngăn cản hoạt động của các đội tự vệ (như ở ga xe lửa Lộc Ninh, đồn điền cao su Quản Lợi, thị trấn Chơn Thành…) đều nhanh chóng bị tiêu diệt. Ngay trong đêm 24-8, lực lượng cách mạng từ các làng của quận Hớn Quản cử hai đoàn gồm 100 công nhân đồn điền Lộc Ninh - Quản Lợi và 50 đồng bào người dân tộc thiểu số trang bị khoảng 30 - 40 khẩu súng kéo về thị xã Thủ Dầu Một tham gia cướp chính quyền ở tỉnh.

Sáng 25-8-1945 công nhân và nhân dân các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch… tổ chức mít tinh rồi chuyển thành biểu tình có vũ trang chiếm nơi làm việc của giới chủ, giành quyền làm chủ đồn điền. Trước sức mạnh của quần chúng cách mạng, hầu hết chủ đồn điền và chỉ huy Nhật đều giao lại nhà xưởng, kho tàng, máy móc, đồn điền cho nhân dân. Sau khi giành quyền quản lý các đồn điền, quần chúng tiếp tục kéo về chợ Hớn Quản tổ chức mít tinh biểu dương lực lượng, sau đó giành chính quyền ở quận lỵ.

Ở Bà Rá (Phước Long), quân Nhật co cụm lại, không dám có hành động gì, chờ quân Đồng minh đến để giao nộp vũ khí. Một số tên ác ôn như Cai tổng Đinh bị quần chúng hạ uy thế, chỉ trốn ở nhà, không dám có phản ứng gì.

Trong các vùng có đông đồng bào dân tộc thiếu số, các tổ chức Hội cứu quốc, Thanh niên Tiền phong và công nhân các đồn điền Lộc Ninh, Quản Lợi, Thuận Lợi… đã làm nòng cốt, hỗ trợ cho đồng bào đứng lên giành chính quyền.

Với thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, từ thân phận của người dân nô lệ, nhân dân Bình Phước (giai đoạn này thuộc một phần địa bàn các tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa) - dưới sự lãnh đạo của Đảng đã cùng quân, dân cả nước vùng lên đập tan ách thống trị của thực dân, phát xít, giải phóng quê hương, giành quyền làm chủ. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Bình Phước là kết quả của cuộc đấu tranh anh dũng kiên cường, thể hiện khát vọng tự do của toàn thể quần chúng nhân dân trong tỉnh. Cũng từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhân dân yêu nước, đảng viên và các tổ chức đảng đã từng bước trưởng thành trong đấu tranh và lãnh đạo cách mạng, vững bước tiến vào giai đoạn lịch sử mới với quyết tâm và tinh thần cách mạng cao nhất.

                                                               H.Lan (Tổng hợp)

 

Lượt xem: 963

  • File đính kèm:

Bình luận

xbiendao6.png.pagespeed.ic.PiV-wj50rF.jpg

Banner gửi tỉnh ủy.png

 logo.gif

prieng.png

QUANG CAO TUYEN GIAO.gif