Search

Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của Chơn Thành trước năm 1930 đến năm 1954

Từ đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã thiết lập các đồn điền ở Chơn Thành, chúng tuyển mộ dân ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung làm phu Đồn điền làm cho đội ngũ công nhân ngày càng gia tăng. Sự áp bức bóc lột tận cùng của chủ Đồn điền và tay sai đã đẩy công nhân vào cảnh sống vô cùng cực khổ và họ đã đứng lên đấu tranh chống lại bọn chủ đồn điền, bảo vệ quyền sống của mình.

Năm 1908, cuộc nổi dậy dưới sự lãnh đạo của ông Điểu Dố - người dân tộc Xtiêng đã thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc hưởng ứng, đoàn kết cùng nhau chống thực dân Pháp xâm lược. Tuy vũ khí còn rất thô sơ nhưng tinh thần chiến đấu của nghĩa quân Điểu Dố rất dũng cảm. Thực dân Pháp hoảng sợ, nhiều lần mở các cuộc đàn áp quyết liệt. Điểu Dố cùng nghĩa quân quyết tâm chiến đấu đến cùng, không khuất phục kẻ thù. Điểu Dố anh dũng hy sinh để lại hình ảnh bất khuất, về người thủ lĩnh nghĩa quân trong lòng nhân dân nơi đây.

Tiếp theo cuộc khởi nghĩa của Điểu Dố, đồng bào các dân tộc ở khu vực Chơn Thành, Bình Long, Lộc Ninh cũng vùng lên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa do N’Trang Lơng lãnh đạo. Năm 1912, khởi nghĩa của N’Trang Lơng đã mở rộng ra toàn vùng. Bằng vũ khí rất thô sơ gồm cung tên, giáo mác, cây rừng vót nhọn, nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, nghĩa quân đã làm cho quân Pháp nhiều phen kinh hồn bạt vía.

Từ năm 1918 đến năm 1930, liên tiếp các cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc thiểu số kết hợp với công nhân trong các đồn điền cao su có lúc lan rộng sang cả vùng bên kia biên giới. Phong trào đấu tranh của nhân dân nơi đây nổ ra ngày một nhiều, làm cho thực dân Pháp phải đối phó liên tục. Nhưng do lực lượng ít, vũ khí thô sơ, lại diễn ra lẻ tẻ, nên hầu hết các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Mặc dù vậy, các cuộc khởi nghĩa đã thể hiện được tinh thần anh dũng, kiên cường chống ngoại xâm của đồng bào các dân tộc trên vùng đất này.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh tại chính quốc. Trong hoàn cảnh bị áp bức, bóc lột nặng nề, tinh thần đấu tranh của công nhân các đồn điền luôn sục sôi. Công nhân các làng “công tra” ở vùng Chơn Thành nhiều lần đứng lên đấu tranh.

Tại Chơn Thành, các cuộc đấu tranh ở các đồn điền liên tiếp nổ ra. Giữa năm 1933, cùng với việc tên Quận trưởng More bị giết tại Phú Riềng, nhân dân Chơn Thành nổi dậy tấn công đồn Bù Kol, tiêu diệt binh lính Pháp đồn trú tại đây. Từ cuối năm 1933 cho đến những năm đầu thập niên 1940, Chi bộ Đảng đã lãnh đạo và tổ chức anh em công nhân cũ siết chặt hàng ngũ với anh em công nhân mới, tạo sức mạnh đoàn kết trong đấu tranh.

Năm 1943, Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một được thành lập tại Dầu Tiếng do đồng chí Văn Công Khai làm Bí thư. Tổ chức Mặt trận Việt Minh của tỉnh cũng được thành lập. Lúc này, Tỉnh ủy chủ trương: Nơi nào đã phục hồi cơ sở đảng thì tổ chức các Hội cứu quốc, sau đó phát triển đến các nơi khác. Tại Chơn Thành, theo sự phân công của Tỉnh ủy, các đồng chí Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Chung và nhiều cán bộ, đảng viên khác chuyển về đây hoạt động, tiến hành xây dựng cơ sở cách mạng, nhằm khôi phục phong trào quần chúng.

Ngay sau khi giành chính quyền thắng lợi ngày 25-8-1945 ở Sài Gòn, Ủy ban khởi nghĩa quận Hớn Quản chỉ đạo công nhân tại các đồn điền cao su tham gia tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh lỵ. Đồng chí Lê Đức Anh hướng dẫn anh em công nhân và đồng bào dân tộc thiểu số tham gia giành chính quyền ở tỉnh lỵ. Ở thị trấn Chơn Thành, Ủy ban hành chính được thành lập do ông Ngô Tấn Nghi - một trong những lãnh đạo Thanh niên Tiền phong ở Chơn Thành làm Chủ tịch. Tại các xã, tổ chức Thanh niên Tiền phong được củng cố, kiện toàn.

Cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Chơn Thành đã làm một cuộc cách mạng lịch sử. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của quân và dân Chơn Thành là kết quả tất yếu của những năm tháng theo Đảng làm cách mạng, mở ra trang sử mới trong lịch sử, đồng thời, tạo ra những tiền đề quan trọng để nhân dân Chơn Thành bước vào giai đoạn cách mạng tiếp theo: giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa nhân dân Chơn Thành nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vừa thoát khỏi ách nô lệ kéo dài gần một thế kỷ, nhân dân Chơn Thành đã lại phải đương đầu với hàng loạt khó khăn: Kinh tế kiệt quệ, khắc phục những hậu quả nặng nề về đời sống văn hóa - xã hội do chế độ thực dân cũ để lại. Song cuộc sống mới đã bắt đầu trên quê hương Chơn Thành. Khắp các làng, xã, buôn, sóc cuộc vận động xóa mù chữ, bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu, rượu chè, cờ bạc, các loại tệ nạn xã hội, phát động toàn dân đoàn kết xây dựng và bảo vệ cuộc sống mới… được nhân dân hưởng ứng sôi nổi. Uỷ ban cách mạng lâm thời ở Chơn Thành được thành lập nhằm ổn định đời sống, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội từ thị trấn đến các xã, ấp. Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc nhanh chóng ra đời ở các xã làm chỗ dựa cho chính quyền cách mạng. Trong các đồn điền, Ban Quản trị công nhân được thành lập gồm những công nhân ưu tú, những cán bộ nòng cốt cùng quần chúng nhân dân, công nhân trong các cuộc đấu tranh cách mạng, tham gia quản lý Đồn điền.

Quận ủy lâm thời chỉ đạo cấp ủy đảng cơ sở rút một số thanh niên từ các lực lượng dân quân du kích, để thành lập bộ đội chủ lực của tỉnh và bộ đội huyện. Bên cạnh các hoạt động phong trào, hoạt động quân sự, công tác xây dựng Đảng, củng cố các đoàn thể cũng được chú trọng. Một số đoàn thể quần chúng và tổ chức chính trị ra đời.

Từ năm 1947, sự phối hợp giữa bộ đội địa phương, dân quân du kích, quốc gia tự vệ diễn ra sôi nổi trên khắp địa bàn Chơn Thành, nhất là trong các đồn điền dọc theo quốc lộ 13. Lực lượng vũ trang, bán vũ trang của địa phương cùng với công nhân cao su, đồng bào dân tộc thiểu số hợp thành đội quân hùng hậu thực hiện nhiều hoạt động quân sự và vũ trang tuyên truyền, vây hãm và tấn công tiêu diệt địch bằng nhiều cách, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Ở các đồn điền tại Chơn Thành, địch đã hình thành thế chốt cụm để bung ra đánh phá, càn quét, gom dân làm cao su. Nhiều làng trở thành khu tập trung lớn và bị chúng kiểm soát gắt gao mọi hoạt động của công nhân. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, địch cũng gom lại thành từng khu lớn ven đồn điền, ven thị trấn để, kiểm soát, thường xuyên lùng sục vào các rẫy của đồng bào. Bên cạnh đó, chúng liên tục tập kích vào những địa bàn là nơi dừng chân của các đội, mũi công tác, nơi có cơ quan cách mạng và lực lượng vũ trang của ta.

Đầu năm 1953 là giai đoạn cam go trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Chơn Thành. Các lực lượng vũ trang của huyện vừa sắp xếp củng cố lực lượng, tổ chức huấn luyện và cơ động chiến đấu trên các chiến trường, vừa nỗ lực chống địch bao vây kinh tế, tăng gia sản xuất trong điều kiện địch đánh phá hết sức ác liệt và thiên tai tàn phá nặng nề. Với những cố gắng vượt bậc của quân, dân Chơn Thành (Hớn Quản), không những khó khăn được khắc phục mà phong trào cách mạng cũng được khôi phục và đi lên. Cùng với đấu tranh chính trị, lực lượng vũ trang liên tục đẩy mạnh các hoạt động đánh tiêu hao sinh lực địch, buộc chúng phải dồn lực lượng để đối phó.

Ngày 7-5-1954, nhận được tin chiến thắng Điện Biên Phủ, quân và dân Chơn Thành vô cùng phấn khởi, đã kiên quyết đẩy mạnh các hoạt động kháng chiến để giành thắng lợi hoàn toàn.

Hiệp định Giơnevơ được ký kết, thực dân Pháp rút quân khỏi Việt Nam và Đông Dương, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam.

                                                                                    M.AN

Lượt xem: 268

  • File đính kèm:

Bình luận

Video

xbiendao6.png.pagespeed.ic.PiV-wj50rF.jpg

Banner gửi tỉnh ủy.png

 logo.gif

prieng.png

QUANG CAO TUYEN GIAO.gif